Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011

Các Giá Trị Tự Do Không Thể Bị Cầm Tù


Tự do đồng nghĩa với Tiến bộ và Văn minh

Thước đo sự tiến bộ và văn minh của một xã hội được đánh giá thông qua những giá trị tự do mà nó có được. Những giá trị đó tỉ lệ thuận với trình độ phát triển của các thành tựu văn minh con người, nó tự thân khẳng định trong mọi môi trường lịch sử cũng như bối cảnh xã hội.

Trong những quốc gia văn minh, tự do đã trở thành một thứ quyền thiêng liêng không thể chối cãi. Nó tồn tại trong các định chế của pháp luật, trở thành văn hoá ứng xử của các thành viên xã hội. Khái niệm tự do được hiểu và phát triển mạnh mẽ nhất từ khi các cuộc cách mạng dân chủ tư sản bùng phát ở Tây Âu. Từ đó khái niệm “Tự do” trở thành tâm điểm cũng như mục đích của mọi cuộc cách mạng và cải cách xã hội.
Tự do là cha đẻ của sáng tạo, và tư duy sáng tạo là cội nguồn của sự tiến bộ. Thiếu nó thì xã hội loài người không phát triển được. Hay nói cách khác, không có tự do thì xã hội dẫm chân tại chỗ bởi sự kìm hãm của màn đêm hoang dại. Khi các nền văn minh phát triển đến một trình độ nhất định thì sẽ xuất hiện những cuộc cách mạng để thúc đẩy xã hội tiến lên một trình độ cao hơn. Các cuộc cách mạng xã hội và khoa học kỹ thuật là những minh chứng cho điều đó.

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2011

Mất chủ quyền và nhục Quốc thể

Bằng chứng Lịch sử và xương máu của tiền nhân
Vua Gia Long
Vào giữa thế kỷ 16 (năm 1558), Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá và dần mở mang bờ cõi về phương Nam. Trãi qua các đời chúa Nguyễn thì cương vực và lãnh thổ biên giới quốc gia đã được định hình và xác lập. Lãnh thổ đó bao gồm đất liền và biển đảo.
Các hoạt động khẳng định chủ quyền lãnh hải và khai thác kinh tế biển, trong đó có khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được các chúa Nguyễn chú trọng thực hiện từ những năm đầu thế kỷ 17, với sự hiện diện của hải đội Hoàng Sa và Bắc Hải. Hai đội tàu này có nhiệm vụ hàng năm ra đảo khai thác hải sản, tìm vớt cổ vật và hàng hoá của những chiếc tàu bị đắm.
Trong Phủ biên tạp lục, nhà bác học Lê Quý Đôn cho biết: "Biên chế đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã An Vinh (vùng Sa Kỳ, Cù Lao Ré – Quãng Ngãi) bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau ra biển, bắt đầu từ tháng giêng. Ra đảo tự bắt chim, cá làm thức ăn…đến tháng 8 đội Hoàng Sa trở về cửa Eo (cửa Thuận An) rồi lên thành Phú Xuân trình nộp các sản vật đã khai thác được".

Chương X: Bình minh Dân chủ

Bóng đêm dần tan
Bên kia đêm tối là bình minh, khi màn đêm mịt mùng và lạnh giá sắp qua đi cũng là lúc những tia sáng mặt trời ấm áp đầu tiên xuất hiện, khởi đầu một ngày mới cho nhân gian. Những tiếng hát du dương ngợi ca cuộc sống tươi đẹp của các thiếu nữ sẽ vang lên, tiếng cười đùa của trẻ thơ bên những khóm hoa hé nở đón chào sự xuất hiện của bình minh. Một cuộc sống mới sẽ đến với tất cả những giá trị tốt đẹp và hạnh phúc cho con người. Chúng ta – những người dân nước Việt – hãy cùng chung tay để đẩy lùi bóng tối của sự dối lừa và độc tài đang bao trùm đất nước để đón ánh bình minh.
Từ lâu người dân Việt phải sống trong sự sợ hải và nghi kỵ bởi một xã hội lạc loài, phi nhân tính. Sự chịu đựng trong dài lâu nổi bất công đã làm hao mòn bao cuộc đời lẽ ra phải được sống trong tự do và hạnh phúc. Những giá trị chân lý bị đảo lộn làm lung lạc ý chí và niềm tin của con người đối với cuộc sống mà đáng ra họ được làm chủ và dựng xây. Những bức tường vô hình vẫn được dựng lên để che khuất tầm nhìn của người dân muốn hướng về chân lý. Họ hoàn toàn mất phương hướng bởi chung quanh là bóng tối được bao bọc bởi nhà tù và những tên đồ tể mạo xưng là đầy tớ trung thành của nhân dân.
Trong đêm tối mịt mùng, những ánh mắt vẫn cố gắng giữ vững niềm tin hướng về phía trước, hy vọng một ngày kia ánh mặt trời sẽ xuất hiện và làm hồi sinh cuộc sống của họ. Lương tri luôn hướng về ánh sáng, đến những gì tốt đẹp là bản năng nhân bản của con người. Quỷ dữ có thể cấm đoán tư tưởng con người nhưng không thể kiểm soát tâm hồn họ luôn hướng về chân lý được. Những lời dụ dỗ và lừa mị của chúng có thể làm u tối đầu óc con người, nhưng không khi nào có thể thắng được ánh sáng của công lý và tình yêu thương. Cùng với những trái tim kiên định và lòng dũng cảm để đối mặt với quỷ dữ thì dân tộc Việt Nam nhất định sẽ đẩy lùi được bóng tối để vượt qua đêm đen! Khi ánh sáng của tự do – dân chủ soi rọi thì bóng đêm sẽ dần tan trên tổ quốc thân yêu của chúng ta.

Những tia sáng của niềm hy vọng
Thời kỳ hoàng kim của vương quốc bóng đêm sắp qua đi, giờ đây bóng tối mịt mùng không hoàn toàn ngự trị nơi này nữa, đã có những tia sáng của niềm hy vọng lấp ló nơi chân trời.
Những tia sáng kia là gì vậy? Xin thưa, đó là những giá trị của tự do – dân chủ đã được chiếu rọi nơi con tim mọi người dân nước Việt. Từ nay họ không còn sợ hải đêm tối của quỷ dữ nữa, họ đã dũng cảm tranh đấu đòi lại nhân quyền bị tước đoạt, phá bỏ những nổi bất công do nhà cầm quyền gây nên. Cùng với những hành động thức tỉnh lương tri đó, ánh sáng hy vọng đã được thắp lên. Lũ quỹ giận dữ lui dần vào bóng tối để cố thủ, chờ đợi ngày tàn của vương quốc bóng đêm. Khi con tim đã được thắp sáng, người ta sẽ không còn sợ hải các thế lực hắc ám nữa, họ sẽ dũng cảm tiến lên dành lại quyền làm chủ cuộc sống của mình. Cùng với đó, niềm hy vọng cũng đã được thắp lên: Tự do thay vì cam chịu, hạnh phúc thế chỗ cho khổ đau và áp bức.
Giờ đây, các cuộc biểu tình phản đối bất công của những người dân oan đã diễn ra khắp mọi nơi. Những người nông dân chân chất xưa kia vốn bị chính quyền lừa dối và chỉ biết phục tùng, sợ hải nay đã dũng cảm đứng lên đòi lại quyền lợi của mình đã bị đánh cướp. Họ kiên trì và quyết tâm tranh đấu để đòi lại chân lý, dù có phải đi cùng trời cuối đất. Những tiếng hô vang đòi chân lý và sự thật của người dân vang vọng đã làm cho nhà cầm quyền phải chùn tay và run sợ. Những cuộc bải công, đình công của giới công nhân diễn ra liên tục ở những nơi nào có hảng xưởng hay khu công nghiệp. Họ đấu tranh để đòi những quyền lợi chính đáng cho bản thân.
 Bị chính quyền gò ép và áp đặt tư tưởng, các tổ chức tôn giáo đã lên tiếng đấu tranh đòi quyền tự do tín ngưỡng. Các nhà dân chủ yêu nước đã dấn thân cho công cuộc đấu tranh dân chủ hoá nước nhà, dù có phải chịu những bản án bất công và phi lý. Bức xúc trước hiện tình thối nát của đất nước, nhiều bậc trí thức yêu nước đã lên tiếng yêu cầu nhà nước cải tổ chính trị…; Giới cầm quyền run sợ trước sức mạnh tranh đấu của toàn dân, của mọi tầng lớp trong xã hội, những người vốn là nạn nhân của chế độ độc tài toàn trị.
Tất cả hợp lại thành một bức tranh sinh động và tươi đẹp cho tương lai của đất nước. Từ đây những tia sáng của niềm hy vọng đã được thắp lên cho đất nước và nhân dân Việt Nam. Chúng ta tin tưởng và tự hào về điều đó.

Sự thức tỉnh của lương tri
Con người không dễ thoát ra khỏi móng vuốt của sự u mê do quỷ dữ gieo rắc hòng thống trị lâu dài đất nước này. Sự thay đổi nhận thức là điều cần thiết để có thể giải phóng bản thân chúng ta thoát khỏi mạng lưới quyền lực mà chính quyền đã giăng ra. Điều đó diễn ra cùng với quá trình tìm đến với chân lý và sự thật, đến với những giá trị nhân bản của con người. Và chúng ta gọi đó là sự thức tỉnh của lương tri.

Lời kêu gọi của những bậc trí thức
Họ là những người hiểu được bản chất sai trái và phi nhân của học thuyết cộng sản. Không thể im lặng nhìn đất nước chìm đắm mải trong sự u mê tăm tối của con đường vô định, những người trí thức đã đồng lòng lên tiếng kêu gọi chính quyền thay đổi phương thức quản lý nhà nước đồng thời cải tổ chính trị; xoá bỏ chế độ độc tài để xây dựng chế độ chính trị tự do đa nguyên đa đảng. Dù nhiều người trong số họ đã bị nhà nước cầm tù nhưng không ngăn được những nhà trí thức yêu nước khác tiếp tục lên tiếng đấu tranh.
Các tầng lớp nhân dân
Dù không có được trình độ lý luận như những người trí thức, nhưng người dân là nạn nhân trực tiếp của chế độ, họ hiểu hơn ai hết bản chất xấu xa của cái xã hội mà mình đang phải sống.
Bao nhiêu năm nay, từ đời cha đến đời con họ đã chứng kiến sự thối nát và lừa bịp của cái chế độ mà người ta đã trơ trẽn tuyên bố là thiên đường xã hội chủ nghĩa ấy. Những nổi bất công ngang trái, sự kìm kẹp và áp bức người dân diễn ra ngay cả khi đất nước đã được độc lập, ngang nhiên và công khai giữa thanh thiên bạch nhật. Vì rằng cả đất nước là một nhà tù lớn nên người dân đã phải bịt mắt bưng tai ngần ấy năm trời mà không dám lên tiếng phản đối, họ sợ bị trù dập và tù đày. Giờ đây, khi mà những nổi bất công và khổ đau đã bị đẩy đến giới hạn của sự chịu đựng thì người dân không thể im lặng được nữa. Ruộng đất, nhà cửa của họ bị ngang nhiên cướp phá dưới danh nghĩa của đủ thứ quy hoạch nhà nước. Khi mà mọi bất công hiện hữu ngay trong cuộc sống thường nhật, thách thức lương tri con người. Khi mà sự dối lừa và bịp bợm đã trở nên quá trơ trẽn, tiền bạc của người dân không còn đủ cho lòng tham vô đáy của kẻ cầm quyền. Tất cả những điều đó là cú đập mạnh vào nhận thức của người dân vốn lâu nay bị mơ màng vì sự tuyên truyền lừa bịp, vì thế mà lương tri của họ nay đã được thức tỉnh. Từ nay người dân đã có thể phân biệt được tốt – xấu và đúng – sai, đâu là dân chủ và đâu là kẻ độc tài.
Và nhà cầm quyền thì lo sợ điều đó, một khi lương tri người dân đã được thức tỉnh thì sự lừa dối sẽ không thể tồn tại, vì thế mà sự sụp đổ của chế độ toàn trị là điều tất yếu và cận kề. Người dân sẽ đứng lên để đòi hỏi quyền lợi của mình, đòi xoá bỏ những bất công và lừa dối đã ngự trị bấy lâu nay trên đất nước mình. Họ sẽ thực thi trách nhiệm thiêng liêng của mình trước dân tộc và lịch sử: Lật đổ chế độ độc tài phi dân chủ để xây dựng một xã hội tự do. 
Từ trong guồng máy độc tài
Những con người có lương tâm đã quá chán nản với sự lừa dối và bất công của chính quyền đối với người dân. Họ là những người bất đắc dĩ phải nắm giữ những chức vụ hoặc công việc trong bộ máy nhà nước độc tài. Chính họ là những người hiểu rõ sự tồn tại của chế độ đã cản trở sự phát triển đất nước như thế nào, đồng thời là cội nguồn mọi đau khổ và bất công cho người dân. Họ không muốn lối sống đạo đức giả xu mị và tung hô chế độ để phì gia vinh thân, họ không thể! Đồng thời họ cũng là những người đưa ra ý kiến đòi cải cách hệ thống chính trị. Phần lớn những cán bộ, công chức cấp thấp cũng đều mong muốn có sự thay đổi. Bởi bên trong bộ máy nhà nước thì chính họ cũng là những nạn nhân, cũng phải chịu đựng một cuộc sống không xứng đáng và phù hợp với lương tâm mình. Từ trong tâm khảm của mình họ mong muốn sự đổi thay tận gốc rễ để có thể nhìn thấy một xã hội mới tốt đẹp và hạnh phúc hơn cái xã hội lừa bịp và phi nhân mà mình đang phải sống và làm việc.

Các tầng lớp khác
Từ khi chính quyền nới lỏng dây trói cho người dân, chấp nhận những thay đổi nhỏ giọt thì các tầng lớp khác trong xã hội cũng có cơ hội phát triển hơn trước. Chính quyền làm điều này vì sự tồn tại của chế độ hơn là mong muốn sự phát triển và tiến bộ cho đất nước. Vì rằng chế độ độc tài tồn tại được là nhờ kìm hảm tiến trình phát triển của xã hội, nhờ sự trói buộc nhận thức và ngu dân. Lĩnh vực kinh tế được mở rộng giao thương đã tạo nên một tầng lớp doanh nhân mới, những doanh nhân có tri thức và tiếp xúc nhiều với thế giới bên ngoài. Các chủ nông trại cũng ra đời do chính sách nới lỏng giới hạn đất đai. Tầng lớp này cũng phát triển tuy không được nhanh chóng và mạnh mẽ như trong một xã hội có nền kinh tế thị trường lành mạnh và đúng nghĩa khác. Tầng lớp doanh nhân, chủ doanh nghiệp, chủ nông trại ...là mạch xương sống của nền kinh tế đất nước. Tầng lớp này hiểu rõ tầm quan trọng của lĩnh vực kinh tế đối với sự phát triển xã hội, đồng thời nhận thấy sự bất cập của hệ thống quản lý đã làm suy yếu tiềm lực kinh tế của quốc gia. Họ đòi hỏi và mong muốn những cải cách mạnh mẽ hơn từ phía nhà nước đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, việc theo đuổi một nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa man rợ của nhà nước, cùng nạn tham nhũng của các quan chức đã ngăn cản sự phát triển của một nền kinh tế thị trường tốt đẹp như mong muốn.
Những người là kỹ sư, bác sĩ, luật sư, hoạ sĩ, nhạc sĩ…vốn là thành phần trí thức của đất nước. Sự lao động cống và hiến của họ sẽ làm lớn mạnh cho một đất nước phát triển dựa trên nền tảng tri thức và khoa học. Phần lớn tầng lớp này không tham gia vào bộ máy chính quyền, họ sống một cuộc sống độc lập theo sở nguyện và lương tâm của mình. Tuy còn bị nhiều hạn chế và bó buộc từ nền chính trị và pháp luật độc tài, nhưng họ cảm thấy hạnh phúc hơn khi được làm việc tự do và không tham gia vào bộ máy công quyền để lừa bịp và áp bức người dân. Là những người có nhận thức cao, họ thấy rõ sự cần thiết của một xã hội tự do – dân chủ cho sự phát triển đất nước cũng như con người như thế nào. Những hoạt động tích cực của họ trong các lĩnh vực đã thúc đẩy tiến trình tiến tới một xã hội tiến bội, văn minh hơn.
Mọi tầng lớp con người trong xã hội giờ đây đều đã thức tỉnh lương tri, họ cùng lên tiếng đòi hỏi những đổi thay to lớn hơn cho đất nước. Những đổi thay mà sẽ mang lại những điều tốt đẹp và hạnh phúc cho con người. Chỉ có như vậy thì mới có thể đáp ứng những nhu cầu nội tại cấp thiết của đất nước trong lúc này. Nhân dân Việt Nam mong đợi và khát khao điều đó. Nhưng dù sao thì sự thay đổi đó cũng chỉ là những biện pháp tình thế mà thôi, không giải quyết được mọi vấn đề một cách tận gốc rễ được. Muốn thay đổi xã hội thì phải thay đổi hệ thống chính trị độc tài thối nát đã kìm hảm sự phát triển của đất nước, thiết lập chế độ tự do dân chủ, trao quyền làm chủ đích thực cho người dân.

Những bước chân can trường
Những bước chân nối nhau mạnh mẽ và đi xuyên qua màn đêm u tối, vang vọng đến tận mai sau. Những bước chân đó tiếp nối lịch sử, nối liền quá khứ với tương lai dân chủ. Đó chính là mạch nối của tâm hồn Việt Nam, là những giá trị tốt đẹp đã tồn tại ngàn đời nay trên đất Việt, thể hiện sự khát khao xây dựng một xã hội tốt đẹp cho đất nước.
Chúng ta nghe rõ những tiếng bước chân đó đang rầm rập và lớn dần, lớn dần…; những bước chân đó đẩy lùi đêm tối và quỷ dữ, đòi trả lại những giá trị nhân văn cho dân tộc Việt. Những bước chân can trường làm quỷ dữ phải run sợ, lùi dần vào bóng tối ưa thích của chúng để rồi mải mải biến mất, nhường chỗ cho ánh sáng và tình yêu thương. Đó chính là những bước chân tranh đấu, là hiện thân những giá trị tốt đẹp của dân tộc với ý chí quật cường không khuất phục các thế lực xấu xa đang ngự trị.
Những bước chân nối nhau không dứt, ngày càng đông và mạnh mẽ. Họ tiến lên không ngừng, bình thản nhưng dứt khoát và kiên định. Họ đòi chấm dứt chế độ độc tài toàn trị đã lũng đoạn đất nước và áp bức người dân; họ đòi các quyền tự do căn bản cho con người, đòi xoá bỏ những bất công và oan ức. Họ đòi thiết lập một xã hội tự do – dân chủ mà ở đó người dân thực sự làm chủ vận mệnh đất nước, vận mệnh bản thân. Những bước chân can trường đó vẫn đi, đi mải cho đến ngày chiến thắng của toàn thể dân tộc.

Bình minh Dân chủ
Bóng đêm độc tài đang lùi dần, và bên kia đêm tối là buổi bình minh của lịch sử mà mọi con tim đều hướng tới và mong chờ.
Thời cơ lịch sử đang đến gần với dân tộc Việt Nam, đó là kết quả của những năm tháng can trường giữ vững niềm tin nơi khát vọng tự do, là sự dồn nén của bao khổ đau ngang trái mà cả dân tộc phải chịu đựng. Vận mệnh đất nước đang chờ đón nhân dân Việt Nam ra tay sắp đặt, cơ hội lịch sử của những giá trị nhân bản đang được đặt vào tay chính những người dân. Họ sẽ tự quyết định lấy số phận đất nước, xây dựng nên một chính quyền dân chủ đích thực cho mình. Quyền được làm một con người đích thực và đúng nghĩa mà bấy lâu bị cướp mất đang hiện hữu rất gần đối với toàn dân. Trước vận mệnh lịch sử đó, người dân Việt Nam không được phép chần chừ nữa và Hãy đứng lên đấu tranh đòi lại quyền sống và tự do của mình! Đó là lời của sông núi, của khí thiêng hồn Việt ngàn năm đang trỗi dậy thúc dục giống nòi: Hãy vì hạnh phúc từ nay và cho thế hệ mai sau. Hãy đổi thay sông núi và khoác lên đất nước màu áo mới của tự do, dân chủ cùng hạnh phúc của toàn dân.
Người dân chúng ta đã phải chịu đựng quá nhiều khổ đau và mất mát, lẽ nào giờ đây còn chịu mải sự cai trị áp bức của một chế độ độc tài toàn trị? Đã quá đủ cho sức chịu đựng của con người, hơn nửa thế kỷ nay phải sống trong sự kìm kẹp bởi những kẻ điên rồ hoang tưởng. Những kẻ bắt cả dân tộc phải đi theo cái học thuyết không tưởng đã làm lụi tàn bao giá trị tinh thần của dân tộc Việt. Đã chừng ấy năm nhân dân phải câm nín và chứng kiến sự ngang trái, bất công và khổ đau. Những ý tưởng nung nấu cho một sự đổi thay đã đến hồi nở hoa kết trái. Trước khi diễn ra những cuộc tranh đấu rầm rộ đòi tự do dân chủ, cách mạng đã ở trong trái tim và khối óc của nhân dân.
Dân tộc Việt Nam đang hướng tới một xã hội mới mà ở đó nhân dân là người chủ tối thượng, họ sẽ quyết định tương lai vận mệnh dân tộc mình và cho chính hạnh phúc của bản thân. Một xã hội không còn những kẻ độc tài cai trị, những kẻ đã coi đất nước và nhân dân như là một thứ tài sản của riêng mình. ánh bình minh đang chiếu rọi lên vùng đất mà từ lâu chìm đắm trong bóng đêm của lo âu và sợ hải. Tất cả Hãy cùng đồng lòng hướng về phía bình minh để đón nhận những tia nắng ban mai tinh khiết và ấm áp tình người. Hãy đoạn tuyệt với bóng đêm u tối đã làm lung lạc tâm hồn biết bao con người vì những dối lừa của quỷ dữ. Cùng nắm tay nhau bước đi hướng về phía mặt trời, dựng xây một cuộc sống mới tốt đẹp trên đất nước chúng ta.
Rốt cuộc những khổ đau và sợ hải cũng sẽ phải lùi xa bởi lòng can trường của một dân tộc anh hùng, một dân tộc chưa bao giờ khuất phục ngoại xâm. Dân tộc đó nhất định đánh đổ chế độ chế độ độc tài chuyên chế còn tồn tại trên đất nước mình như một nghịch lý của thời đại tự do – dân chủ. Nhân loại đang ở thế kỷ 21, thế kỷ của sự văn minh và tiến bộ. Nhân dân Việt Nam quyết tâm tiến lên phía trước, phá bỏ tất cả những thế lực cản trở chúng ta trên con đường đến với các giá trị của tự do dân chủ. Phá bỏ chế độ độc tài toàn trị đã vì quyền lợi ích kỷ của số ít những kẻ cầm quyền mà đã quay lưng lại với lợi ích của toàn dân tộc.
Lịch sử đang đứng về phía nhân dân Việt Nam, cả thời đại đang ủng hộ họ khi mà ở khắp nơi những chế độ độc tài cuối cùng trên thế giới đang bị lật đổ bởi người dân. Tất cả những điều đó đang đẩy lùi tham vọng của các chế độ độc tài, những chế độ kìm kẹp dân tộc mình trong bóng tối của sự lừa dối và bưng bít. Kẻ độc tài lo sợ ánh sáng và sự thật, vì vậy khi những tia sáng của bình minh chiếu tới thì những bóng ma trở nên run rẩy và biến mất vào khoảng không vô định, để rồi không bao giờ còn làm hại con người được nữa. Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, người dân Việt Nam yêu chuộng các giá trị của tự do, dân chủ, bình đẳng và công lý. Đó là những giá trị mang lại cuộc sống hạnh phúc cho con người, để dựng xây một xã hội tươi đẹp mà con người hằng mong muốn. Nhân dân Việt Nam sẽ không còn đứng ngoài cuộc nữa, họ sẽ nhất loạt đứng lên xua tan màn đêm đang bủa vây dân tộc mình và che khuất những giá trị của tự do. Hàng triệu con mắt hướng về phía ánh sáng kỳ diệu của tự do và hạnh phúc, thứ ánh sáng nhiệm mầu có thể xua đuổi được lũ ma quỷ xấu xa.
Thời cơ lịch sử đang đến rất gần cho dân tộc Việt Nam, lịch sử đã đặt vào tay họ những giá trị tốt đẹp nhất mà nhân loại có được, Hãy sẵn sàng đón nhận và nhất định đừng để rơi mất một lần nữa! Hãy đón lấy những gì nhân dân đáng được có và phải có, Hãy giải thoát cho chính mình khỏi gông cùm của độc tài toàn trị, để rồi tung cánh bay giữa bầu trời tự do và bác ái. Và từ nay không còn ai có thể cấm đoán được tư tưởng của chúng ta nữa, không còn ai bắt giam vô cớ những người dân khi họ nói lên nguyện vọng chính đáng của bản thân. Bạn sẽ không còn bị những sợi dây vô hình trói buộc ngay giữa quê hương đất nước mình, không còn sợ bị bỏ tù bởi thực thi những quyền tự do căn bản của con người nữa. Để làm được điều đó, chỉ cần một hành động dứt khoát nơi chúng ta, đó là đoạn tuyệt với bóng đêm tội lỗi và cùng hướng về ánh bình minh đang chiếu rọi muôn nơi.
Bóng đêm đang dần tan, ngày tàn của bạo chúa đã cận kề. Những giá trị của tự do – hạnh phúc đang ở rất gần chúng ta. Với những con tim đã được thức tỉnh bởi chân lý và niềm tin, dân tộc Việt Nam hãy tiến lên cùng thời đại. Đến với những giá trị cao quý mà nhân loại đã hằng xây đắp, những giá trị đã giải phóng con người khỏi bóng đêm tăm tối của bạo tàn, những giá trị của tự do – dân chủ. Cơ hội ngàn năm đang đến, nhân dân Việt Nam sẽ làm nên lịch sử cho chính mình, quyết giải phóng dân tộc khỏi bóng đêm độc tài tăm tối, hướng tới ánh bình minh lịch sử của khát vọng ngàn năm!

Chương IX: Sự đánh tráo các khái niệm

Đảng không phải là dân tộc
Một chính đảng chân chính và vì dân thì không bao giờ đánh tráo các khái niệm chính trị để lừa dối nhân dân. Chỉ có những kẻ sai trái mới hành động như vậy để hợp thức hoá và biện minh cho sự tồn tại phi lý của mình.
Để mị dân, nhà cầm quyền luôn đồng nhất hai khái niệm Đảng và Dân tộc. Việc đánh tráo khái niệm đó không đánh lừa được ai. Vì rằng với một người có đôi chút nhận thức cũng hiểu được Mặt Trăng và mặt trời khác nhau, không thể đồng nhất hai khái niệm này được. Việc làm đó của nhà cầm quyền là hòng che dấu và biện minh cho sự độc quyền lãnh đạo sai trái của mình. Chúng ta đang sống ở thế kỷ 21 văn minh và tiến bộ, mọi hành xử của con người đều phải dựa trên cơ sở pháp luật, mọi khái niệm đều được hiểu và phân tích một cách khoa học và khách quan. Việc nhắm mắt đánh đồng các khái niệm để đánh lừa trẻ con ấy, gợi cho chúng ta nhớ về một thời kỳ mông muội xa xưa của nhân loại. Khi mà con người còn tin sá sấu là hiện thân của thần linh, núi lửa là trận chiến của các vị thần đang diễn ra trong lòng đất. Thật nực cười cho kiểu hành động như vậy của một nhà nước, thay vì phải nâng cao nhận thức cho con người thì họ lại mị dân? Một dân tộc có tri thức thì dân tộc đó mạnh và ngược lại. Việc lừa dối và ngu dân sẽ làm cho dân tộc mình suy yếu,  đi ngược lại với lợi ích của dân tộc và là kẻ thù của sự tiến bộ.
Chính vì lợi ích của đất nước, của nhân dân bị đặt dưới lợi ích của đảng Cộng sản mà nhà cầm quyền thực hiện việc đánh tráo các khái niệm như là một việc làm có chủ đích. Đó là nhân danh dân tộc để gạt bỏ các lực lượng dân chủ vốn là đối thủ của họ, chà đạp lên mọi tiếng nói chính nghĩa và yêu nước của người dân. Việc làm đó nhằm cũng cố cho một bộ máy độc tài toàn trị đầy tham nhũng. Nhà cầm quyền sử dụng bộ máy nhà nước và lực lượng tay sai để đàn áp những tiếng nói dân chủ và dân oan. Để biện minh cho hành động đó, việc làm đầu tiên của họ là đánh đồng đảng cộng sản với toàn thể dân tộc Việt Nam. Xin thưa rằng không có đảng phái nào là tất cả, và bắt cả dân tộc phải tôn sùng mình như một thứ tôn giáo giả hiệu. Rồi nhân danh điều đó để cấm đoán các đảng phái khác hoạt động, vi phạm nghiêm trọng các quyền tự do căn bản của con người.
Đảng phái là tập hợp của những con người có cùng quan điểm tư tưởng, có cùng đường lối quản lý đất nước cũng như tôn chỉ hoạt động. Dân tộc Việt Nam là cộng đồng người Việt có cùng nguồn gốc lịch sử, địa lý và gắn bó với nhau về ngôn ngữ cùng nhiều đặc trưng văn hoá khác. Dân tộc Việt vẫn tự hào là có hơn 4 ngàn năm lịch sử xây dựng và phát triển đất nước.
Vậy từ nay xin nhà cầm quyền đừng nhầm lẫn đảng Cộng sản với dân tộc Việt Nam nữa!

Sự nhầm lẫn về cấu trúc nhà nước
Các khái niệm cơ bản của cấu trúc thượng tầng đã bị chính quyền độc tài cố tình nhầm lẫn và hiểu sai chức năng quan trọng của nó.  Cần phải hiểu đúng chức năng và ý nghĩa như sau:
-       Lập Pháp: Tức Quốc hội (Nghị viện), là cơ quan đại diện của dân, có chức năng làm luật;
-       Hành Pháp: Là Chính phủ, có nhiệm vụ thực thi pháp luật;
-       Tư pháp: Toà án, có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật.
Ba cơ quan này tồn tại độc lập, đối trọng và giám sát lẫn nhau gọi là “Tam quyền phân lập”.
Quốc hội do dân bầu ra, đại biểu quốc hội là đại diện dân cử. Có sự tham gia đại diện của nhiều đảng phái và tổ chức khác nhau, cũng như các ứng viên độc lập. Quốc hội thay mặt nhân dân để làm ra luật pháp. Quốc hội không chịu sự quản lý hay giám sát của một đảng phái nào.
Chính Phủ có trách nhiệm quản lý đất nước theo quy định của pháp luật (thực thi pháp luật). Và Toà án có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật được thực thi đúng với nội dung quy định.
Đó là chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp trong một chế độ nhà nước dân chủ.
Chúng ta hãy xem chế độ độc tài sử dụng các cơ quan nói trên như thế nào? Họ thực hiện cái gọi là “Tam quyền phân công”, có nghĩa là 3 cơ quan trên đều bị đặt dưới sự chỉ đạo của đảng cộng sản, do đảng phân công nhiệm vụ. Đảng tức là quốc hội, là chính phủ, là toà án. Như vậy dân chẳng có quyền gì cả, các cơ quan trên cũng không có một chút độc lập nào mà hoàn toàn phụ thuộc vào đảng. Tất cả được quy về một mối: Đảng lãnh đạo. Và điều đó được người Việt Nam và thế giới gọi là: - Độc tài toàn trị.

Khi Độc tài mạo xưng Dân chủ
Điều đó tương tự việc kẻ cướp nói chuyện nhân đạo hay bị cáo ngồi ghế quan toà vậy. Và đó là một sự đánh tráo và nhầm lẫn khái niệm tai hại.
Thường thì không ai tự nhận mình là kẻ xấu cả. Các chính phủ độc tài thường nói rằng họ là đại diện của dân, toàn thể dân tộc ủng hộ họ. Trong các cuộc bầu cử độc diễn, tỉ lệ trúng cử bao giờ cũng cao ngất ngưởng tùy theo chủ ý của họ. Những kẻ cầm quyền là hung thần nên người dân không dám phản đối, các phương tiện truyền thông thì nhà nước nắm giữ nên họ nói sao dân biết vậy. Độc tài và Dân chủ là hai khái niệm chính trị đối lập nhau về ý nghĩa và bản chất. Nhà nước độc tài đánh tráo hai khái niệm này đã tạo nên hiện tượng tốt xấu lẫn lộn tai hại trong đời sống xã hội. Người tốt bị hiểu thành kẻ xấu và ngược lại. Vì thế mà những giá trị tốt đẹp và tích cực trong xã hội thì bị coi là xấu, là tiêu cực và phản động. Và người dân bị lạc lối trong cái mê cung đánh tráo khái niệm này, không còn phân biệt đâu là thật – giả hay tốt – xấu nữa.
Tóm lại, khi các giá trị của cuộc sống bị đảo lộn thì đời sống của một xã hội trở nên bệnh hoạn và niềm tin bị lung lay tận gốc rễ. Điều đó tác động tai hại đến nhận thức của những thế hệ con người Việt Nam, họ đã mất phương hướng và niềm tin đối với xã hội mà mình đang sống.

Cái lồng nhốt các tổ chức xã hội
Cái lồng đó có tên gọi là Mặt trận tổ quốc, bản thân nó lại chịu sự lãnh đạo trực tiếp của đảng Cộng sản. Nói cách khác là đảng làm ra một cái lồng để nhốt các tổ chức xã hội vào trong đó. Không cho các tổ chức đó sống một cuộc sống tự nhiên đúng như bản chất thật của mình. Các tổ chức xã hội ở Việt Nam thì gồm có: Hội liên hiệp phụ nữ, hội Nông Dân, hội Cựu chiến binh, Công Đoàn, Đoàn Thanh niên…; những tổ chức này được gom lại trong một đầu mối gọi là "Mặt trận tổ quốc". Lại một lần nữa chúng ta thấy được sự đánh tráo khái niệm ở đây. Các tổ chức này về bản chất thì phải được tồn tại độc lập với nhà nước. Mỗi tổ chức đều có tôn chỉ hoạt động của mình và có đối tượng phục vụ riêng. Mục tiêu tồn tại của một tổ chức xã hội là bảo vệ quyền và lợi ích của hội viên, mở rộng và phát triển lĩnh vực hoạt động (nếu có nhu cầu) khác không trái với pháp luật và đạo đức xã hội. Sự tham gia và thành lập các tổ chức thuộc chính trị - xã hội là thuộc phạm vi quyền căn bản của con người. Nhà nước kiểm soát các tổ chức này đồng nghĩa với việc kiềm toả các quyền tự do căn bản của người dân. Những tổ chức xã hội vừa kể trên thay vì đấu tranh bảo vệ quyền và lợi ích của  mình thì lại làm theo sự chỉ đạo của nhà nước. Chưa hết, thông qua các hội đoàn này mà nhà nước áp đặt tư tưởng và đường lối chính sách của mình đến từng thành viên. Thật là tiện cho đảng và nhà nước, điều này chỉ có trong một chế độ độc tài độc đảng.
Sự lừa dối có lẽ đã trở thành bản chất của những chế độ độc tài. Việc đánh tráo khái niệm ở đây lại cũng thật tài tình: Thoắt một cái các tổ chức xã hội trở thành mặt trận tổ quốc, thoắt cái lại trở thành đảng, rồi lại biến thành các tổ chức xã hội (nếu cần). Sự có mặt của đảng là khắp nơi, nó như một bóng ma ám ảnh đời sống kinh tế, xã hội của mọi người dân.

Mục đích của việc đánh tráo khái niệm
Khi người ta nghĩ ra trò lừa bịp hẳn phải có mục đích, dĩ nhiên đó là mục đích không chính đáng. Khi người ta cố tình làm cho mọi người hiểu sai bản chất của một vấn đề, làm chệch hướng nội dung hoạt động của những tổ chức xã hội thì không có mục đích nào khác ngoài sự đánh lừa người dân. Nếu để ý chúng ta sẽ thấy tất cả các khái niệm bị đánh tráo kia đều kết nối đến một kẻ ẩn danh, mà cái tên nghe thật trơ tráo: Đảng. Vậy thì đã rõ, mục đích của trò lừa đảo này nhằm phục vụ cho mục tiêu độc tài toàn trị. Tất cả các tổ chức chính trị - xã hội, và mọi người dân đều nằm dưới sự giám sát và cai trị của một kẻ độc tài duy nhất: Đảng Cộng sản. 
Hãy trả lại những gì là của dân
Hơn nửa thế kỷ nay người dân Việt Nam đã bị cướp đi tất cả những gì lẽ ra phải thuộc về mình. Những mất mát thì không thể nào kể xiết, cả đất nước và nhân dân phải gánh chịu. Ngày nay, chúng ta kêu gọi nhà cầm quyền hãy trả lại cho người dân Việt Nam những gì họ đã đánh cướp, đó là:
-       - Quyền làm chủ của nhân dân đối với đất nước và vận mệnh dân tộc mình: Người dân có quyền quyết định con đường đi của dân tộc, có quyền lựa chọn chế độ chính trị dân chủ cho mình;
-       - Những quyền tự do căn bản của con người;
-       - Những giá trị đích thực của cuộc sống con người đã bị đánh tráo và lừa dối;
-       - Những giá trị văn hoá, lịch sử của cha ông đã bị chà đạp và tàn phá trong suốt thời gian cách mạng văn hoá xuẩn ngốc và tàn bạo;
-       - Tất cả những sáng tạo văn học, nghệ thuật bị cấm đoán để rồi không thể phát triển một cách lành mạnh và đúng nghĩa;
-       - Trả tự do ngay lập tức cho những tù nhân lương tâm, các nhà dân chủ yêu nước và những người dân bị ngồi tù một cách sai trái vì hệ thống tư pháp bù nhìn…
Không thể kể xiết những điều mà người dân Việt Nam đã bị cướp đi trong hơn nửa thế kỷ qua dưới ách chế độ độc tài. Đã đến lúc toàn thể người dân Việt Nam phải đứng lên đòi lại món nợ đó một cách sòng phẳng trước lịch sử và tương lai của dân tộc.

Chương VIII: Xã hội không tưởng đi về đâu?

Quá độ, quá độ và quá độ…
Từ khi giành được chính quyền, nhà nước cộng sản tuyên bố chương trình xây dựng đất nước của họ là “quá độ để đi lên CNXH”. Nội dung của cái chương trình “quá độ” ấy là gì? Đó là quá trình xây dựng cơ sở vật chất nền sản xuất XHCN, hoàn thiện nội dung lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ bấy đến nay, đã hơn nửa thế kỷ mà họ vẫn loanh quanh "quá độ" như gà mắc tóc, và ngày càng sa vào vũng lầy của sự tụt hậu so với thế giới. Cứ mỗi kỳ đại hội đảng người dân lại nghe thấy vị tân tổng bí thư cất lời đọc sang sảng: - Đưa đất nước Việt Nam trên con đường quá độ tiến liên CNXH…; rõ rồi, thưa quý vị, đất nước Việt Nam là một bệnh nhân đang héo mòn vì bệnh tật nay lại được giao vào tay một gả lang băm là đảng cộng sản để chữa trị. Họ vin vào cái gọi là "quá độ" để cầm quyền chừng nào còn có thể, còn Chủ nghĩa Xã hội bao giờ xây dựng xong thì chỉ có Chủ nghĩa Xã hội mới biết? Xây dựng một xã hội không có thực (không tưởng) cũng giống như kể chuyện ma để hù doạ trẻ con vậy. Vì ma là giống không có thật, là sản phẩm của trí tưởng tượng con người, nên người ta miêu tả nó hình dạng thế nào cũng được.Họ tha hồ vẽ rồng vẽ rắn rồi bảo là xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, người dân thì sợ nhà nước quen rồi, có ai dám cãi đâu. Quá trình đó được cô đọng trong hai từ: “Quá độ”. Trong xã hội dân chủ, một đảng phái chỉ có thời gian cầm quyền từ 4 đến 5 năm để thực hiện chương trình kinh tế – xã hội của mình dưới sự giám sát của người dân. Ở nước mình, đảng cộng sản đã thực hiện cái gọi là “quá độ” ấy từ hơn nửa thế kỷ nay rồi mà vẫn dở dang và mải mải không bao giờ xong.Thử hỏi người dân Việt Nam phản ứng thế nào, quyết định ra sao? Chắc là vẫn phải ca ngợi sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của đảng cộng sản, rồi lại phải nghe họ hô khẩu hiệu “Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!”?. Lời nói của nhạc sĩ Tô Hải sẽ thay cho lời nhận xét xủa tôi: - “Họ tuyên bố quá độ đi lên Chủ nghĩa Xã hội từ khi tôi còn nhỏ, nay đã gần hết cuộc đời tôi rồi mà vẫn còn quá độ. Thôi, giải tán cái đảng của các ông đi!”
Xã hội không tưởng đi về đâu?
Đi về đâu khi chung quanh là bóng tối, phía trước là đêm đen bất tận? Người dân đã quá mệt mỏi và chán nản với con đường vô định ấy rồi. Điều nguy hiểm là những kẻ đi lạc đường đã không đủ dũng khí để nhìn nhận sai lầm mà vẫn bắt cả dân tộc phải đi theo con đường vòng vo tăm tối của mình. Người dân phải làm gì khi nhà cầm quyền không làm những gì như họ đã nói? Khi mà họ bắt toàn thể dân tộc đi theo con đường không có đích đến ấy? Và trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam đều hiện lên câu hỏi: - Rồi dân tộc Việt Nam sẽ đi về đâu, người dân sẽ đi về đâu?
Không thể tồn tại một xã hội mà những quyền tự nhiên thiêng liêng của con người bị tước bỏ, đó là các quyền tư hữu, tự do và bình đẳng. Nhà nước cộng sản tiến hành xoá bỏ tư hữu, thiết lập công hữu, phủ nhận mọi thành quả và nỗ lực phấn đấu của con người. Vi phạm cái quyền tự nhiên căn bản nhất là con người được sở hữu những gì là giá trị lao động của bản thân mình. Tài sản công hữu đã trở thành mồi ngon cho bọn quan chức lưu manh tham nhũng nhưng lại nhân danh nhân dân và dân tộc. Tại các quốc gia cộng sản đều thiết lập một chế độ nhà nước độc tài, các quyền tự do căn bản của người dân vì thế mà bị cướp mất hoặc chỉ có trên hình thức. Họ tiến hành các chiến dịch bài trừ giai cấp, làm cho các giá trị xã hội bị đảo lộn vì sự phân biệt ý thức hệ.
Khi giấc mộng ảo tưởng của những kẻ ngu ngốc đã qua đi, thì chính họ cũng nhận thấy sự ấu trĩ của mình trong nhận thức. Nhưng hậu quả của cái mà họ gọi là “cách mạng vô sản ấy” đã gây ra cho dân tộc một nổi đau đớn và vết nhơ mà lịch sử không bao giờ gội sạch cho được. Tội ác chồng chất nhưng đảng cộng sản chưa bao giờ biết hối lỗi, họ thay đổi chậm chạp theo chiều hướng ngược lại chỉ để kéo dài sự tồn tại trong vô nghĩa mà thôi. Họ vẫn ngoan cố duy trì sự tồn tại của đảng cộng sản và tuyên bố xây dựng Xã hội chủ nghĩa. Đó thực chất là quá trình tiến dần đến một xã hội tư bản, tiến đến lý tưởng tư bản chủ nghĩa. Những thành quả mà họ đạt được chính là do xã hội tư bản mang lại, nhưng họ lại cho rằng do sự lãnh đạo tài tình và thiên tài của đảng cộng sản? Họ đã trở lại với ánh sáng của chủ nghĩa tư bản sau hơn nửa thế kỷ đi trong bóng đêm để xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Giờ đây họ duy trì những cải tiến chậm chạp và không giống ai để có thể tiếp tục nắm quyền cai trị nhân dân. Để làm được điều đó, đảng Cộng sản tiếp tục kiềm toả và lừa dối người dân, khiến cho những bất công và sai trái không ngừng gia tăng bởi một xã hội phi nhân.
Hơn nửa thế kỷ bắt người dân phải sống trong đêm tối của sự độc tài toàn trị, nay đã nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm cho sự hối lỗi của họ. Nhưng do ngoan cố muốn nắm quyền lãnh đạo đất nước, mà đảng cộng sản tiếp tục đưa dân tộc đi trong bóng tối mặc dù ánh sáng đã ở ngay trước mặt. Và nếu cứ tiếp tục như vậy, chúng ta lại đặt câu hỏi: - “Xã hội không tưởng sẽ đi về đâu?”.
Một xã hội mất niềm tin
Khi những giá trị cuộc sống bị đảo lộn thì hậu quả tất yếu là niềm tin con người trở nên khủng hoảng và bị đánh mất.
Một khi nhà nước – là lực lượng lãnh đạo xã hội – được trang bị bởi một thứ lý luận sai trái, phi nhân và hoang tưởng thì sẽ làm cho các khái niệm khác mất đi bản chất đúng đắn và đi chệch hướng. Việc tiếp tục áp đặt một thứ học thuyết hoang tưởng cho dân tộc đã gây nên nổi hoang mang và khủng hoảng niềm tin cho nhân dân. Tất cả nông nổi trên được gây ra bởi đâu? Bởi sự ngoan cố và tham vọng quyền lực của nhà cầm quyền. Họ không thừa nhận sai trái của mình và không chịu từ bỏ quyền lực. Vì những đặc quyền đặc lợi mà lợi ích của đất nước và nhân dân bị đặt dưới lợi ích của một nhóm thiểu số cầm quyền.
Một xã hội không thể tiếp tục sống mãi trong sự khủng hoảng và đánh mất niềm tin. Đã đến lúc phải gạt bỏ những nhận thức sai trái và cản trở của thế lực u mê để lấy lại niềm tin và nhận thức đúng đắn nơi mỗi con người. Chỉ có như vậy thì xã hội Việt Nam mới trở nên lành mạnh và đúng nghĩa như những gì nó vốn có.

Chương VII: Phong trào Dân chủ

Các đảng phái và tổ chức chính trị - xã hội
Dù bị cấm đoán, kiểm soát và bắt bớ gắt gao từ phía chính quyền nhưng các đảng phái và tổ chức chính trị vẫn thành lập và bí mật hoạt động. Như một minh chứng cho sự khát khao tiếp nối những truyền thống anh hùng của dân tộc. Thể hiện cho khát vọng của người dân Việt nam đối với những giá trị tốt đẹp của một xã hội tự do – dân chủ. Và năm 2006 là một năm đáng nhớ đối với lịch sử cách mạng dân chủ Việt Nam, cùng trong năm này nhiều đảng phái và tổ chức chính trị đã nối nhau ra đời. Điều này thách thức sự cầm quyền độc tôn của đảng cộng sản đã mấy chục năm nay.
Đảng dân chủ thế kỷ XXI
Người lãnh đạo và đồng thời chủ tịch đảng là cụ Hoàng Minh Chính. Đảng Dân chủ được thành lập từ năm 1944 và có mặt trong chính phủ liên hiệp của nhà nước Việt nam dân chủ cộng hoà lúc bấy giờ. Cùng với quá trình chuyên chính vô sản của mình, đảng cộng sản đã dần gạt các đảng phái khác tham gia đời sống chính trị và độc quyền lãnh đạo đất nước. Đảng dân chủ cũng nằm trong số đó, và từ đó đến nay đảng không hoạt động. Nhận thấy đảng cộng sản đã không thực hiện những điều họ đã hứa trước quốc dân đồng bào trước đây: Đó là mang lại hạnh phúc và tự do dân chủ cho người dân, mà ngược lại người dân bị cướp đi các quyền căn bản của mình và phải sống trong sự bất công ngày càng gia tăng. Người chủ tịch đảng năm xưa đã quyết chí phục hoạt đảng Dân chủ với tên gọi mới: Đảng Dân chủ thế kỷ XXI, với mong muốn lấy lại các quyền tự do dân chủ đã bị đảng cộng sản cướp mất, đồng thời mang lại những giá trị mới và tốt đẹp mang tính thời đại cho người dân. Khi phục hoạt đảng Dân chủ (năm 2006) cụ đã ngoài 80 tuổi. Lời kêu gọi của vị chủ tịch đảng lão thành đã lập tức nhận được sự hưởng ứng to lớn của các tầng lớp nhân dân cũng như giới trí thức trong và ngoài nước. Ngay sau đó cụ đã bị nhà cầm quyền quản thúc tại gia, không cho người đến thăm viếng ngay cả khi cụ bị ốm đau do tuổi cao. Và bên ngoài ngôi nhà của cụ tại Hà Nội là ngôi nhà Việt nam, đảng dân chủ vẫn tiếp tục hoạt động. Vài năm sau, một số người của đảng dân chủ đã bị bắt giam như: Luật sư Lê Công Định, Nguyễn Tiến trung (vốn là một kỹ sư điện đang làm việc tại Pháp, nặng lòng với vận mệnh đất nước nên anh đã về nước tham gia đảng dân chủ để đấu tranh cho nền dân chủ Việt nam), Trần Anh Kim (ông trước đây là cựu sĩ quan quân đội, nay đấu tranh phản đối chính sách bất công của nhà cầm quyền đối với người dân, ông quê ở Thái Bình)…; ở trong nhà giam vì mong muốn nhanh chóng được thả ra để tiếp tục tranh đấu cho lý tưởng, họ đã vờ nhận lỗi để được tự do. Nhưng nhà nước đã lừa dối và làm kẻ thất tín khi tiếp tục xử tù họ, dù rằng họ chỉ thực thi quyền công dân của mình là thành lập và tham gia đảng phái. Người kế tục cụ Hoàng Minh Chính để lãnh đạo Đảng Dân chủ là ông Nguyễn Sĩ Bình.
Đảng Thăng tiến Việt Nam

Thành lập ngày 08/9/2006. Trưởng ban đại diện tổ chức là Nguyễn Phong.
Với mục tiêu mong muốn cho Việt Nam thăng tiến nhanh hơn trên con đường dân chủ hoá và phát triển đất nước, đảng Thăng tiến Việt Nam ra đời và lấy tên gọi làm tôn chỉ hoạt động của mình. Nhà dân chủ trẻ là Luật sư Lê Thị Công Nhân cũng đồng thời là phát ngôn viên của đảng này.

Đảng Vì Dân

Là một chính đảng được thành lập tháng 01 năm 2006 bởi sự kết hợp của 5 tập hợp đấu tranh trong nước và Hải ngoại. Với chủ trương xây dựng một đất nước Việt Nam mới thật sự có dân chủ, tự do, ấm no và tiến bộ. Thành hình một giải pháp chính trị khả thi cho Việt Nam, mà mục tiêu cụ thể là một cuộc Tổng tuyển cử tự do.

Người sáng lập đồng thời Tổng thư ký của Đảng Vì Dân là ông Nguyễn Công Bằng. Ông sinh năm 1955 tại tỉnh Kiên Giang - Việt Nam, nguyên là quân nhân Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Năm 1976 ông kết hợp với một số bạn hữu thành lập một tổ chức phục quốc bí mật, hoạt động chống lại nhà cầm quyền Cộng sản ở các tỉnh Miền Nam Việt Nam. Ông bị nhà cầm quyền bắt giam với tội danh âm mưu lật đổ chính quyền. Năm 1978 vượt trại tù rồi vượt biên sang Malaixia. Năm 1979 ông sang Mỹ và định cư tại thành phố Houston, tiểu bang Texas. Tại Hoa Kỳ ông tham gia sáng lập nhiều tổ chức yêu nước và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp dân chủ hóa nước nhà, giải thể chế độ Độc tài Cộng sản trên quê hương Việt Nam. Tháng 01 năm 2006 Chính thức thành lập đảng Vì Dân, một đoàn thể chính trị chủ trương đấu tranh cho Dân chủ, tự do, công bằng xã hội và quyền lợi của dân nghèo. Đồng thời ông cũng là người vận động thành lập Hội Thiện nguyện SAP - VN, một Hội chuyên giúp đỡ cho trẻ em khuyết tật và những người nghèo khó.

Hiện nay đảng Vì Dân có số lượng thành viên đông đảo, hoạt động ở cả trong và ngoài nước. Tổ chức nhận được sự ủng hộ và cảm tình đặc biệt của tầng lớp công nhân, nông dân, công chức cấp thấp và tầng lớp dân nghèo nói chung.

Đảng Việt Tân (Việt Nam canh tân cách mạng Đảng)

Đảng Việt Tân được thành lập ngày 10/9/1982, mà tiền thân là Mặt trận Quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam do Cựu Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh sáng lập. Đảng viên Việt Tân hoạt động cả trong nước và hải ngoại. Nhiều thành viên đã bị nhà nước Cộng sản Việt Nam bắt giam và tuyên án tù. Khẩu hiệu mà Đảng Việt Tân đưa ra là: "Đấu tranh bất bạo động để tháo gỡ độc tài, xây dựng xã hội dân sự để đặt nền dân chủ, vận động toàn dân để canh tân đất nước".

Các chủ tịch của Đảng Việt Tân:
- Hoàng Cơ Minh (1982 - 1987)
- Nguyễn Kim (2001 - 2006)
- Đỗ Hoàng Điềm (từ 2006 đến nay)
Tổng Thư Ký của đảng Việt Tân hiện nay là ông Lý Thái Hùng

Khối 8406
Khối này có tên gọi chính thức là “Liên minh nhân dân vì dân chủ”. Ra đời với mục đích liên minh các phong trào đấu tranh dân chủ trong nước thành một khối để phấn đấu cho mục tiêu chung là dân chủ hoá đất nước. Liên minh được thành lập ngày 8.4.2006, vì thế mới có tên gọi là khối 8406 do được ghép lại bằng ngày, tháng và năm ra đời. Liên minh quy tụ nhiều nhà dân chủ nổi tiếng và có uy tín trong nước.
Công Đoàn độc lập
Do tiến trình công nghiệp hoá phát triển, vì thế giai cấp công nhân Việt Nam cũng trở nên đông đảo hơn trước. Những người công nhân sống tập trung tại các khu công nghiệp hoặc những thành phố lớn. Họ đến đây từ nhiều miền quê của đất nước với mong muốn tìm được một công việc tốt để mưu sinh. Và bao giờ cũng vậy, có hoạt động sản xuất thì có những tranh chấp lao động phát sinh.
 Những bất công và vi phạm từ phía giới chủ đối với công nhân đã không được giải quyết thoả đáng. Công đoàn nhà nước không phải là người đại diện và đứng về phía công nhân khi có tranh chấp lao động xảy ra. Ngược lại, tổ chức công đoàn nhà nước còn liên kết với giới chủ để kiềm toả người lao động, không đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của họ. Nhiều cuộc đình công, bải công tự phát của công nhân tại các doanh nghiệp nhà nước cũng như doanh nghiệp nước ngoài đã nổ ra. Do không có người đại diện và lãnh đạo mà những đòi hỏi của họ phần lớn không được đáp ứng hoặc đáp ứng không thoả đáng, và bị đối xử thô bạo trong một số trường hợp. Trước tình hình đó, cuối năm 2006 “Công Đoàn Độc Lập” được thành lập để bảo vệ và đoàn kết giới công nhân. Tổ chức là người đại diện đích thực cho người công nhân, bảo vệ và đấu tranh cho những quyền lợi chính đáng của họ. Nó đối trọng với Công Đoàn nhà nước, vốn là một tổ chức do nhà nước lập ra, làm theo sự chỉ đạo của nhà nước thay vì đại diện cho giới công nhân. Từ nay giai cấp công nhân Việt Nam đã có tổ chức đại diện đích thực của mình, vì quyền lợi của người lao động.
Chính quyền đã không thừa nhận Công đoàn độc lập, coi họ là một tổ chức không hợp pháp và ra tay đàn áp, bắt bớ. Nhiều nhà hoạt động công đoàn đã bị bắt giam như : Đoàn Huy Chương, Nguyễn Thị Minh Hạnh, Bùi Kiến Quốc…; mặc dù vậy Công Đoàn Độc Lập vẫn không ngừng lớn mạnh cùng với sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam. Vì rằng giới công nhân cần một tổ chức thực sự là người đại diện và bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, và đó không là ai khác ngoài tổ chức Công đoàn Độc lập mà họ đã gửi gắm niềm tin.

Các nhà dân chủ tiêu biểu
Linh mục Nguyễn Văn Lý
Là một vị Linh mục của đạo Công giáo tại giáo phận Huế, ông là người kính chúa yêu nước. Người mà mọi người vẫn gọi ông với cái tên trìu mến: Cha Lý. Trước bối cảnh các tôn giáo (trong đó có đạo Công giáo của ông) bị bách hại, nhân quyền của người dân bị chà đạp mà cha Lý đã dấn thân cho con đường đấu tranh vì tự do tôn giáo và dân chủ hoá đất nước. Bị nhà nước bắt và giam cầm nhưng cha vẫn luôn giữ vững đức tin nơi chúa và sức mạnh của tự do. Dù đứng trước toà án hay nơi tù ngục, người ta luôn nhận thấy ở cha phong thái hiên ngang của một con người đấu tranh cho chân lý và lẽ phải. Cha luôn đặt niềm tin vào sự tất thắng của lực lượng dân chủ Việt Nam.
 Linh mục Nguyễn Văn Lý xứng đáng là niềm tự hào của mọi người dân nước Việt, những người đang cần đến một điểm tựa tinh thần để vượt qua nổi sợ hải mà chế độ độc tài đã gieo rắc khắp nơi, từ đó mà họ có đủ dũng khí đứng lên tranh đấu để đòi quyền tự do – dân chủ cho đất nước và cho chính bản thân mình.

Bác sĩ Phạm Hồng Sơn
Đã nhiều năm nay bác sĩ Phạm Hồng Sơn tranh đấu cho công cuộc dân chủ hoá đất nước. Ông bị nhà cầm quyền bắt giam nhiều lần và đã phải ngồi tù vì lý tưởng tranh đấu của mình. Với một trí Tuệ sắc sảo cùng lối lý luận sắc bén ông đã nhiều lần phân tích bản chất và bộ mặt thật của chính quyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, gây cho nhà cầm quyền nhiều sự lúng túng và tức giận. Ông lên tiếng ủng hộ các nhà dân chủ khác để cùng họ tranh đấu cho một mục đích chung.
Trước cuộc bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp của nhà nước năm 2011, bác sĩ Sơn đã lên tiếng kêu gọi dân chúng tẩy chay cuộc bầu cử do nhà nước dàn dựng. Vào ngày chính quyền mở phiên toà sơ thẩm xét xử Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ (đầu năm 2011) bác sĩ Sơn cùng nhiều người khác đã đến dự để bày tỏ sự ủng hộ đối với nhà dân chủ này; ông cùng với Luật sư Lê Quốc Quân và một số người khác nữa bị bắt giam. Sau đó 10 ngày được thả ra và ngay lập tức ông lại xuất hiện trên đài phát thanh để lên án nhà cầm quyền. Bác sĩ Sơn là một ngọn cờ tranh đấu dân chủ mà nhiều người đang hướng tới.

Luật Sư Nguyễn Văn Đài
Là người có quê gốc ở tỉnh Hưng Yên và hiện tại anh sinh sống tại Hà Nội. Nhà dân chủ này đồng thời cũng là một tín đồ của đạo tin lành, người luôn tin tưởng vào những ân phước mà chúa sẽ ban cho sự nghiệp dân chủ hoá đất nước Việt Nam. Từng là cố vấn pháp luật cho chủ tịch đảng Dân chủ là cụ Hoàng Minh Chính và là người khởi thảo bản tuyên ngôn, anh đã góp phần to lớn cho sự phục hoạt của Đảng Dân chủ thế kỷ 21.
Trăn trở với những nổi oan khuất và bất công mà người dân phải gánh chịu trước một nền tư pháp không minh bạch, anh mở Văn phòng Luật sư “Thiên Ân” để giúp đỡ họ về mặt pháp lý và tinh thần. Anh cũng đồng thời là sáng lập viên của “Tổ chức Luật sư vì công lý”. Vì những hoạt động dân chủ và giúp đỡ dân oan của mình mà Luật sư Đài đã bị chính quyền bắt giam vào năm 2006 rồi bị kêu mức án 4 năm tù. Là một người hiểu rõ những giá trị cao đẹp của sự tự do - dân chủ mà mình theo đuổi, anh vẫn bình thản trước trước phiên tòa bất công xét xử mình và lời tuyên án mà họ đưa ra. Chúa đã che chở và ban phước cho anh trong những năm tháng lao tù để tiếp tục cho sự nghiệp dân chủ cao cả. Với uy tín và lòng yêu tự do của mình, Luật sư Nguyễn Văn Đài trở thành niềm ngưỡng mộ của nhiều người yêu nước tại Việt Nam.

Nhà dân chủ trẻ Phạm Thanh Nghiên
Người con gái nhỏ nhắn mới ngoài 30 tuổi quê ở Hải Phòng này mang trong tim một mối quan tâm sâu sắc đối với sự tồn vong đất nước và khát khao cho một tiền đồ tươi sáng của dân tộc.
Cô thực sự là niềm tự hào của giới trẻ Việt Nam, thể hiện cho ý chí kiên cường và lòng dũng cảm trước bạo quyền và bất công. Xứng đáng là con cháu của Bà Trưng, Bà Triệu khi cô đã dám đứng lên một mình đấu tranh cho chân lý và sự thật. Trước việc nhà cầm quyền dâng đất và biển đảo cho Trung Quốc, cô đã lớn tiếng phản đối thái độ bán nước đó. Cô dự định tổ chức một cuộc biểu tình để phản đối thái độ khiếp nhược của nhà nước trước sự xâm lấn của Trung Quốc, đồng thời kêu gọi nhân dân Việt Nam đứng lên bảo vệ chủ quyền đất nước. Bị công an và chính quyền địa phương ngăn cản, cuộc biểu tình dự định đã không diễn ra được. Trước tình hình đó, Phạm Thanh Nghiên quyết định phải có hành động dứt khoát để đánh động dư luận, và cô đã toạ kháng tại nhà trong khi công an vẫn vây hãm chung quanh. Trước ngôi nhà của mình, Phạm Thanh Niên đã trưng biểu ngữ phản đối hành động bán nước của chính quyền Việt Nam. Hành động dũng cảm của người con gái bé nhỏ này đã thực sự thức tỉnh dư luận trong và ngoài nước, phơi bày bộ mặt bán nước và thái độ hèn hạ luồn cúi quan thầy Trung cộng của chính quyền Hà Nội.
Câu nói nổi tiếng của cô trước việc đất đai và biển đảo Việt Nam bị mất về tay Trung cộng được các đài phát thanh quốc tế phát đi đã lay động nơi hàng triệu con tim: “Chúng ta không những đấu tranh để lấy lại những gì đã mất, mà còn ngăn chặn những gì sẽ mất trong tương lai”. Mục tiêu tranh đấu của cô Phạm Thanh Nghiên là bảo vệ chủ quyền đất nước, thức tỉnh lòng yêu nước của người dân trước hiểm hoạ xâm lược của Trung cộng.

Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ
Ông là con trai của nhà thơ nổi tiếng đồng thời là Bộ trưởng bộ Canh Nông trước đây trong chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hoà Cù Huy Cận. Là người đã từng du học tại Pháp quốc, Cù Huy Hà Vũ hiểu được những giá trị tốt đẹp của một xã hội tự do – dân chủ mà nước Pháp mang lại cho người dân của mình. ông mong muốn những giá trị đó được thực thi trên đất nước Việt Nam, nơi mà người dân đang phải chịu quá nhiều bất công đau khổ do thể chế chính trị độc tài.
Nổi tiếng là người cương trực với nhiều bài phát biểu thẳng thắn chỉ trích những sai trái của chính quyền, ông đã được nhiều người tiến bộ trong và ngoài nước biết đến. Bằng trình độ học vấn tài năng của mình về luật pháp, ông đã biến điều đó thành những hoạt động tích cực trong việc bênh vực và bảo vệ người dân thấp cổ bé họng trước sự áp bức của chính quyền. Là người nhiệt huyết với vận mệnh dân tộc, ông đã nhiều lần gửi thư lên giới lãnh đạo cao nhất của nhà nước để đề đạt những nguyện vọng của mình đối với sự phát triển và tiến bộ của đất nước. Đáp lại những tình cảm chân thực đó của ông là sự im lặng và làm ngơ của nhà cầm quyền.
Những hoạt động dân chủ của ông đã trở nên đa dạng và phong phú: Tiến hành các trợ giúp pháp lý để bảo vệ dân oan, bênh vực các giáo dân công giáo bị bắt giam vô cớ vì thực thi quyền tự do tôn giáo, viết bài cổ suý tự do dân chủ cho đất nước, gửi thư can gián những quyết sách sai lầm của nhà cầm quyền…; chính quyền đã tiến hành bắt giữ và đưa ông ra xét xử vào đầu năm 2011 với mức án tại phiên toà sơ thẩm là 7 năm tù.Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ là một người có tâm huyết với sự tiến bộ của đất nước và hạnh phúc của người dân.

Luật sư Lê Thị Công Nhân
Nữ Luật sư khi sinh ra được cha mẹ đặt cho tên gọi “Công Nhân” (với hy vọng sau này con mình sẽ thành một người công dân có ích cho xã hội, mang lại sự công bằng và nhân ái cho mọi người). Cô đã xứng đáng với tên gọi đó khi dấn thân vào con đường tranh đấu cho dân chủ để mang lại sự tự do và công bằng cho nhân dân mình. Năm 2006 Công Nhân bị nhà cầm quyền kết án 3 năm tù vì những hoạt động dân chủ của mình, cô sẵn sàng chấp nhận ngồi tù vì những giá trị tự do mà mình theo đuổi cho dân tộc. Là một người phụ nữ kiên định và có trí tuệ, cô luôn nhất quán mục tiêu tranh đấu dù trong hoàn cảnh nào. Với lối ứng xử mềm dẻo nhưng kiên quyết bảo vệ chân lý, ngay cả khi ở trong nhà tù cô cũng nhận được sự nể phục từ những kẻ là đại diện cho bạo quyền. Khi Tổng Thống Ba Lan có ý định mời Công Nhân sang đất nước ông tị nạn chính trị, cô đã gửi lời cảm ơn và nói rằng: “Tôi sẽ ở lại trong nước để tranh đấu, cho đến chừng nào đất nước Việt Nam có được tự do – dân chủ”. Với vóc người nhỏ nhắn và tính cách dễ mến, cô được mọi người yêu tự do và dân chủ cảm mến bởi sự kiên định của cô đối với sự nghiệp dân chủ hóa đất nước.

Vi Đức Hồi – Lương tri và thức tỉnh
Từng là giám đốc trường đảng của huyện Hữu Lũng – tỉnh Lạng Sơn và nắm giữ nhiều chức vụ khác trong bộ máy chính quyền cộng sản, nhà dân chủ Vi Đức Hồi đã làm một cuộc cách mạng triệt để trong nhận thức bản thân để dấn thân cho sự nghiệp đấu tranh cho dân chủ.
Từ vị trí là người đào tạo cán bộ đảng, lương tri đã thức tỉnh trong con người Vi Đức Hồi để đưa anh đến với lý tưởng tự do – dân chủ và những giá trị tốt đẹp của nhân loại. Nhận thấy sự sai trái và nguy hại mà những gì đảng cộng sản đang làm cho dân tộc, anh đã đoạn tuyệt với chính quyền để tìm đến với con đường giải thoát dân tộc khỏi ách độc tài. Những bài viết của anh phê phán đường lối sai lầm của đảng cộng sản và cổ suý cho tự do – dân chủ thể hiện sự thức tỉnh sâu sắc của một con tim hướng thiện. Sẵn sàng từ bỏ những đặc quyền đặc lợi mà những chức vụ có thể mang lại để chọn cho mình lý tưởng dân chủ, Vi Đức Hồi thực sự là một người có tấm lòng yêu nước chân chính, vì hạnh phúc và tương lai của dân tộc mà quên bản thân mình. Với nảo trạng của một kẻ độc tài, chính quyền đã bắt giam anh, quy cho anh cái tội chống đảng và chống nhà nước. Đầu năm 2011 anh bị toà án nhà nước đưa ra xét xử với mức án 5 năm tù giam vì lý tưởng yêu nước của mình. Con người và cuộc đời của nhà dân chủ Vi Đức Hồi là hành trình đi tìm chân lý, đại diện cho sự thức tỉnh lương tri của mỗi người dân Việt Nam để tìm đến với những giá trị tự do – dân chủ đích thực của con người.

Sự trở lại của niềm tin bị đánh mất
Đã từ lâu người dân Việt Nam sống trong sự lừa dối và kìm kẹp của nhà nước độc tài, những giá trị cuộc sống bị đảo lộn nên đã đánh mất niềm tin ngay trong tiềm thức của chính mình. Họ không còn tin vào pháp luật, chân lý và những giá trị tốt đẹp của con người. Người dân đã bị nhà cầm quyền cướp đi các quyền tự do căn bản, bị trói buộc trong guồng máy độc tài đã trở nên bất lực và ngơ ngác trước hiện thực. Nhà cầm quyền nắm giữ và quyết định tất cả, biến những công dân của mình thành những chú cừu ngoan ngoãn. Họ nói đúng thành sai, nói sai thành đúng đều được; tóm lại chính quyền nói sao dân biết vậy, không ý kiến và cũng không cả thắc mắc.
Người dân im lặng trước sức mạnh của bạo quyền, lòng dân căm ghét chế độc tài nhưng không dám phản đối vì sợ bị trả thù và gây khó dễ. Hơn 80 triệu người dân Việt như một hồ nước đầy đang bị con đập vây quanh, chỉ chờ ngày vỡ bờ để thoát khỏi sự vây hãm. Sự xuất hiện của phong trào Dân chủ như một luồng gió mới mang lại hy vọng và niềm tin cho dân tộc Việt Nam. Hành động dấn thân của các nhà dân chủ mang lại sức mạnh tinh thần và sự thay đổi nhận thức trong nhân dân. Toàn thể nhân dân đã lấy lại được những niềm tin đã bị đánh mất mấy mươi năm nay, chờ ngày phá tan ách độc tài toàn trị để mang lại hạnh phúc cho dân tộc và đất nước Việt Nam.

Chương V: Các tôn giáo được đối xử như thế nào?

(Kẻ độc tài nghi ngờ tất cả - kể cả các tôn giáo – vì sợ quyền lực độc tôn của chúng bị lung lay)
(Minh Văn)
Chính sách tôn giáo của nhà cầm quyền
Nhà nước cộng sản có một chính sách tôn giáo hẳn hoi, vì họ luôn dè chừng và lo sợ các tôn giáo tố cáo sự vi phạm quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng. Đây thực chất là một quá trình xóa bỏ tính độc lập và đích thực của tôn giáo, đặt họ vào vòng kiềm toả và sai khiến của nhà cầm quyền. Hay nói cách khác là bắt Chúa Jesu và Đức phật…phải ở dưới chân C.Mác và phải phục tùng học thuyết của vị này. Thay thế các giám mục của giáo hội, sư trụ trì bằng người của nhà nước, các vị này vì thế mà nói theo những gì mà nhà nước sai khiến thay vì rao giảng đạo pháp của tôn giáo mình. Chính quyền thực thi một chính sách tôn giáo cực kỳ phản động và độc ác trong suốt thời kỳ từ các năm 1954 – 1975 tại miền bắc, đặc biệt là với đạo Thiên chúa. Trong thời gian này họ bắt giam hoặc đưa đi đày những giáo sĩ vốn trung thành với nhà thờ chính thống, không chịu tin theo học thuyết cộng sản. Vô số các giáo sĩ đã chết trong lao tù, mà tiêu biểu trong số đó là nhà tù Cổng Trời khét tiếng.
Uỷ ban tôn giáo
Tại các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương đều có một cái gọi là “Uỷ ban tôn giáo” để thực thi chính sách kiềm toả tôn giáo. Các uỷ ban tôn giáo này tiến hành các hoạt động chia rẽ Lương (là những người không có đạo) Giáo (Những người theo đạo công giáo), chia rẽ nội bộ cộng đồng những người theo đạo. Tham mưu cho chính quyền địa phương để có chính sách phù hợp và kịp thời trong việc kiềm toả sự ảnh hưởng của nhà thờ trong dân chúng. Họ lôi kéo các giáo sĩ đứng về phía mình, gây chia rẽ và hoang mang cho cộng đồng người thiên chúa giáo. Về mặt hình thức thì Hiến pháp của nhà nước có ghi: “Tất cả các công dân đều có quyền theo hay không theo một tôn giáo nào”. Mới nghe qua thì chúng ta lầm tưởng là tự do tôn giáo có ở Việt nam, quyền tự do hành đạo được thực thi. Nhưng sự thực thì ngược lại, các tôn giáo bị kiểm soát và cản trở. Nếu không thì tồn tại cái “uỷ ban tôn giáo” để làm gì, thưa quý vị?! Đạo phật cũng không ngoài tình trạng đó, cũng phải được đặt trong sự kiềm toả của chính quyền. Đã xuất hiện một tầng lớp nhà sư mới có thể ăn thịt chó thoải mái hay phóng xe máy ở tốc độ cao trong khi mặt đỏ phừng vì bia rượu. Giờ đây các nhà sư không nói đến giáo lý nhà phật nữa, mà nói tương tự những điều các quan chức chính quyền thường nói để tuyên truyền cho nhà nước mỗi khi lên các phương tiện thông tin đại chúng.

Công an tôn giáo
Chính quyền có hẳn một lực lượng công an tôn giáo trong việc hoàn thiện bộ máy nhà nước độc tài toàn trị của mình. Lực lượng này được đào tạo để đối phó với các hoạt động tôn giáo, theo dõi và giám sát các cơ sở tôn giáo không phải là quốc doanh. Những kẻ đồ tể này chuyên bắt bớ và hành hung các tín đồ phật tử, giáo dân theo lệnh của chính quyền. Luôn bị chính quyền theo dõi và giám sát, các xứ đạo luôn cảm thấy tín ngưỡng thiêng liêng của mình bị cấm cản và xúc phạm nên thường xuyên xảy ra những cuộc phản đối nhà nước. Và mỗi khi các giáo dân lên tiếng phản đối sự vi phạm của chính quyền đối với tự do tín ngưỡng, thì lực lượng công an tôn giáo này góp phần đắc lực trong việc theo dõi và đàn áp họ.

Kiềm toả, đàn áp và bắt bớ
Chính vì nhà nước độc tài bắt người dân phải phục tùng và tôn thờ họ như một thứ tôn giáo nên các tôn giáo khác đều bị coi là đối thủ của họ. Với vẻ mặt đầy thú tính, những kẻ cầm quyền tỏ ra thích thú khi thấy những ánh mắt sợ hải của dân chúng, ở các giáo sĩ và nhà sư trước sức mạnh của bạo quyền.
- Quốc doanh hoá tôn giáo:
Với mục đích thâu tóm toàn bộ giới Phật giáo, nhà cầm quyền lập ra “Hội đồng trị sự Phật giáo trung ương”, với người đứng đầu hội đồng trị sự cùng các chức sắc tôn giáo khác là người của nhà nước. Tại các địa phương, các vị sư trụ trì quốc doanh được ở trong những ngôi chùa do nhà nước mới xây, to đẹp và lộng lẫy. Những ngôi chùa này được xây với tiến độ rất nhanh vì bê tông hoá. Nhà cầm quyền giới thiệu với giới phật tử hay du khách thập phương rằng đó là phật giáo việt nam. Để chứng tỏ với thế giới rằng ở Việt Nam có tự do tôn giáo, họ đăng cai đại hội phật giáo thế giới với sự đầu tư và chuẩn bị của nhà nước. Điều mà mọi người ấn tượng nhất là hình ảnh một chức sắc cao cấp quốc doanh mình mặc áo cà sa đón tiếp các quan khách quốc tế. Trước ống kính truyền hình, vị sư này xăm xăm bước đi như là một vận động viên điền kinh vậy, đôi mắt thì loé lên những tia sáng dục vọng của vật chất và quyền lực. Đến nước này thì hẳn ai cũng nghĩ đến câu: “Áo cà sa không làm nên nhà sư”.
- Đàn áp và bắt bớ:
Để chống lại tiến trình quốc doanh hoá tôn giáo, nhiều giáo sĩ và hoà thượng chân chính đã dấn thân đấu tranh cho đạo pháp, cho công lý và hoà bình. Hẳn những người có lương tri trên thế giới không thể quên được hình ảnh người tù nhân lương tâm nổi tiếng là linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng trong phiên toà xét xử chính ông. Vị linh mục can trường này bị chính quyền bỏ tù vì đã đấu tranh cho tự do tôn giáo và nhân quyền của người dân Việt nam.
Trong những vụ tranh chấp đất đai với chính quyền (phần đất đai và cơ sở tôn giáo bị nhà nước trưng dụng) các giáo dân đã bị đàn áp, bắt bớ và nhiều người trong số họ phải ngồi tù. Với tấm lòng từ bi quảng đại của sứ đồ đức phật, hoà thượng Thích Quảng Độ đã dấn thân cho đạo pháp, cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh là nạn nhân của chế độ độc tài. Không thể ngồi yên nhìn thấy chúng sinh lâm nạn, ngài đã ra tay cứu giúp những người dân oan vốn là nạn nhân của những nổi bất công của chính quyền. Không thể đòi được chân lý, họ còn bị chính quyền đàn áp và đối xử tàn tệ. Và trong con mắt họ, hoà thượng Thích Quảng Độ là hiện thân của đức Phật từ bi giáng thế để cứu giúp họ qua cơn khổ nạn. Vì những hành động nhân ái trên mà ngài đã bị chính quyền độc tài bắt bớ, sách nhiễu và cuối cùng bị quản thúc trong chính ngôi chùa mà ngài đang trụ trì. Ngài cũng đang hết lòng tranh đấu cho một “Giáo hội Việt Nam thống nhất”, để có ngày giới phật tử được về bên toà sen của đức Phật thay vì chịu sự sai khiến của quỷ dữ. Biết bao những người khác nữa vì dấn thân bảo vệ chính đạo mà bị những kẻ bá đạo ra tay đàn áp như: Hoà thượng Thích Không Tánh, mục sư Dương Kim Khải, các vị giáo sĩ hội thánh chuồng bò (Vì bị chính quyền tịch thu cơ sở tín ngưỡng mà phải dùng một nơi mà trước kia là chuồng bò để làm nơi sinh hoạt tôn giáo), hay các tín đồ của phật giáo Hoà Hảo…;

Tương lai nào cho kẻ đàn áp tôn giáo?
Tự do tư tưởng và tự do tôn giáo là quyền căn bản của con người. Đàn áp và chà đạp lên tín ngưỡng của người dân là hành vi thô bạo của một chế độ độc tài và những tên bạo chúa. Thực là phi lý và bỉ ổi khi một nhà nước mà luôn nhìn các tôn giáo với con mắt hằn học và thù địch, coi họ như là đối thủ và trở ngại của chính quyền. Chỉ có một chế độ độc tài thì mới hành xử như vậy, coi tôn giáo là vật cản trên con đường lừa dối và cai trị người dân, coi tôn giáo là kẻ đã làm ảnh hưởng đến quyền lực độc tôn của mình. Những người theo đuổi các tín ngưỡng của mình chỉ mong muốn được tự do hành đạo, sống cuộc sống của một người tu hành hay được bình an thờ phượng chúa. Những ý muốn cao quý và chính đáng đó đã gặp một vật cản xấu xa và tàn ác trên con đường đến với đức tin, đó là chế độ độc tài. Đức tin bị dối lừa, con đường tìm đến với sự bình an tâm hồn của người dân Việt còn lắm chông gai. Sự nghi kị và phân biệt đã làm cho đức tin bị xói mòn, những tín đồ sùng đạo bị hành hạ cả về thể xác lẫn tâm hồn. Nhân danh những đức tin và lý tưởng tốt đẹp bị xúc phạm và cấm đoán, chúng ta lớn tiếng khẳng định rằng: - Một chế độ xã hội tồn tại dựa trên sự phân biệt ý thức hệ, ắt dẫn đến diệt vong!