Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011

Các Giá Trị Tự Do Không Thể Bị Cầm Tù


Tự do đồng nghĩa với Tiến bộ và Văn minh

Thước đo sự tiến bộ và văn minh của một xã hội được đánh giá thông qua những giá trị tự do mà nó có được. Những giá trị đó tỉ lệ thuận với trình độ phát triển của các thành tựu văn minh con người, nó tự thân khẳng định trong mọi môi trường lịch sử cũng như bối cảnh xã hội.

Trong những quốc gia văn minh, tự do đã trở thành một thứ quyền thiêng liêng không thể chối cãi. Nó tồn tại trong các định chế của pháp luật, trở thành văn hoá ứng xử của các thành viên xã hội. Khái niệm tự do được hiểu và phát triển mạnh mẽ nhất từ khi các cuộc cách mạng dân chủ tư sản bùng phát ở Tây Âu. Từ đó khái niệm “Tự do” trở thành tâm điểm cũng như mục đích của mọi cuộc cách mạng và cải cách xã hội.
Tự do là cha đẻ của sáng tạo, và tư duy sáng tạo là cội nguồn của sự tiến bộ. Thiếu nó thì xã hội loài người không phát triển được. Hay nói cách khác, không có tự do thì xã hội dẫm chân tại chỗ bởi sự kìm hãm của màn đêm hoang dại. Khi các nền văn minh phát triển đến một trình độ nhất định thì sẽ xuất hiện những cuộc cách mạng để thúc đẩy xã hội tiến lên một trình độ cao hơn. Các cuộc cách mạng xã hội và khoa học kỹ thuật là những minh chứng cho điều đó.

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2011

Mất chủ quyền và nhục Quốc thể

Bằng chứng Lịch sử và xương máu của tiền nhân
Vua Gia Long
Vào giữa thế kỷ 16 (năm 1558), Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá và dần mở mang bờ cõi về phương Nam. Trãi qua các đời chúa Nguyễn thì cương vực và lãnh thổ biên giới quốc gia đã được định hình và xác lập. Lãnh thổ đó bao gồm đất liền và biển đảo.
Các hoạt động khẳng định chủ quyền lãnh hải và khai thác kinh tế biển, trong đó có khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được các chúa Nguyễn chú trọng thực hiện từ những năm đầu thế kỷ 17, với sự hiện diện của hải đội Hoàng Sa và Bắc Hải. Hai đội tàu này có nhiệm vụ hàng năm ra đảo khai thác hải sản, tìm vớt cổ vật và hàng hoá của những chiếc tàu bị đắm.
Trong Phủ biên tạp lục, nhà bác học Lê Quý Đôn cho biết: "Biên chế đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã An Vinh (vùng Sa Kỳ, Cù Lao Ré – Quãng Ngãi) bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau ra biển, bắt đầu từ tháng giêng. Ra đảo tự bắt chim, cá làm thức ăn…đến tháng 8 đội Hoàng Sa trở về cửa Eo (cửa Thuận An) rồi lên thành Phú Xuân trình nộp các sản vật đã khai thác được".