Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011

Các Giá Trị Tự Do Không Thể Bị Cầm Tù


Tự do đồng nghĩa với Tiến bộ và Văn minh

Thước đo sự tiến bộ và văn minh của một xã hội được đánh giá thông qua những giá trị tự do mà nó có được. Những giá trị đó tỉ lệ thuận với trình độ phát triển của các thành tựu văn minh con người, nó tự thân khẳng định trong mọi môi trường lịch sử cũng như bối cảnh xã hội.

Trong những quốc gia văn minh, tự do đã trở thành một thứ quyền thiêng liêng không thể chối cãi. Nó tồn tại trong các định chế của pháp luật, trở thành văn hoá ứng xử của các thành viên xã hội. Khái niệm tự do được hiểu và phát triển mạnh mẽ nhất từ khi các cuộc cách mạng dân chủ tư sản bùng phát ở Tây Âu. Từ đó khái niệm “Tự do” trở thành tâm điểm cũng như mục đích của mọi cuộc cách mạng và cải cách xã hội.
Tự do là cha đẻ của sáng tạo, và tư duy sáng tạo là cội nguồn của sự tiến bộ. Thiếu nó thì xã hội loài người không phát triển được. Hay nói cách khác, không có tự do thì xã hội dẫm chân tại chỗ bởi sự kìm hãm của màn đêm hoang dại. Khi các nền văn minh phát triển đến một trình độ nhất định thì sẽ xuất hiện những cuộc cách mạng để thúc đẩy xã hội tiến lên một trình độ cao hơn. Các cuộc cách mạng xã hội và khoa học kỹ thuật là những minh chứng cho điều đó.

Tự do có ở đâu?

Thực chất của tự do là cái bên trong của nhân cách con người. Con người có khả năng bẩm sinh ứng xử theo mục đích và theo những cách thức phù hợp với mục đích đó, vì thế mà cần có pháp luật để điều chỉnh hình thức bên ngoài các hành vi của con người để có tính tuân thủ chung. Đó là tự do ở phương diện cá nhân con người.
Ở phương diện xã hội thì tự do chỉ được tồn tại và sinh ra trong một môi trường mà các giá trị tiến bộ không bị cấm đoán và ngăn cản, nơi đó chỉ có thể là một chế độ xã hội dân chủ mà thôi. Mỗi cá nhân sẽ là chính mình khi sức mạnh trí lực được phát huy, sẽ đóng góp hết năng lực bản thân cho xã hội. Có thể nói: một dân tộc tự do là một dân tộc giàu mạnh và văn minh.
Để có một xã hội tự do, tiến bộ thì nhân loại đã trãi qua những cuộc đấu tranh cam go và quyết liệt. Các giá trị của tự do luôn gặp phải những thế lực phản động ngăn cản và cấm đoán. Tuy nhiên, tự do là một chân lý hiển nhiên, nó toả sáng bởi con người luôn khao khát vươn tới. Tự do cá nhân là nền tảng tư tưởng của một xã hội và là mục đích của các nhà nước dân chủ.
Vì sao các chế độ độc tài căm ghét tự do?

Các thế lực phản dân chủ nhất định không thể tồn tại trong một thế giới mà những giá trị tự do được đề cao và phát triển. Chế độ độc tài là đại diện tiêu biểu cho những thế lực phản động đen tối đó. Có chế độ độc tài thì không thể có dân chủ và ngược lại, đây là hai khái niệm chính trị đối lập nhau. Một xã hội dân chủ đồng nghĩa với việc người dân làm chủ đất nước và quyết định mọi vấn đề liên quan đến cá nhân và cộng đồng. Dân chủ là nền tảng của tự do và nhân quyền. Khi con người có được tự do thì việc sử dụng các quyền nhân thân là một điều hiển nhiên, đó là điều mà các nhà nước độc tài rất lo sợ. Họ căm tức khi thấy người dân hiểu được những giá trị của sức mạnh bản thân, muốn họ ngu dốt để trở nên phụ thuộc. Lo sợ người dân sử dụng các quyền tự do của mình để đấu tranh lật đổ chế độ, ít nhất là hạn chế quyền lực của nhà cầm quyền. Kẻ độc tài bao giờ cũng muốn nắm trọn quyền lực và hạn chế các quyền tự do của con người chừng nào còn có thể. Người dân càng ít được hưởng các quyền tự do cá nhân thì quyền lực của nhà nước chuyên chế càng mạnh và vị trí của họ càng được củng cố. Đó là lý do vì sao các chế độ độc tài lo sợ người dân của mình có được tự do, dân chủ. Ngược lại, các nhà nước dân chủ coi tự do là lý tưởng và mục tiêu cho sự phát triển. 

Tự do bị giam cầm

Nhà nước độc tài giam cầm tự do vì sợ sức mạnh của chân lý mà nó sở hữu. Việc làm đó của họ đã vô tình thừa nhận và đề cao tự do, một giá trị tồn tại không phụ thuộc vào môi trường cũng như không gian vì những giá trị cao đẹp của nó. Những kẻ nắm giữ quyền lực nhà nước theo đường lối chuyên chế vi phạm nghiêm trọng các quyền con người, cấm đoán tự do và dân chủ. Điều đó đồng nghĩa với việc một nhóm thiểu số cầm quyền đã vi phạm và chà đạp lên lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân để phục vụ cho những lợi ích xấu xa, phản động. Để thực hiện được ý đồ đó, họ đã giam cầm tự do trong một hệ thống pháp luật lừa bịp và phản dân chủ, cùng với một bộ máy nhà nước độc tài đàn áp. Tất cả chìm ngập trong bóng đêm bởi người dân bị vây kín bởi bức màn sắt của quyền lực và sự giả dối. Tự do đã bị giam cầm trong tù ngục của những kẻ độc tài. Điều đó được chính quyền thực hiện bằng những biện pháp sau:

Cấm đoán và trói buộc tư tưởng:

Có lẽ đó là hành động độc ác và xấc xược nhất của một chế độ chuyên chế đối với các giá trị tự do. Nhà nước độc tài cấm người dân của mình được tìm hiểu hay tiếp cận bất kỳ học thuyết chính trị nào ngoài cái học thuyết phản động mà họ đang áp dụng để cai trị đất nước. 

Đàn áp và bỏ tù những người tranh đấu cho tự do:

Những người đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền bị đàn áp và bỏ tù. Họ là hiện thân cho các giá trị tự do đang bị nhà cầm quyền cấm đoán và trói buộc. Người dân thì bị giam cầm trong một nhà tù lớn là đất nước của mình.

Cướp đi tất cả các quyền tự do căn bản của người dân:

Các quyền tự do căn bản của công dân được Công ước quốc tế thừa nhận đã bị đánh cướp và vi phạm một cách trắng trợn, có hệ thống từ phía nhà cầm quyền. Tại sao họ lại phải hành động như vậy? Vì nhà nước độc tài sợ người dân sẽ sử dụng các quyền ấy để đấu tranh chống lại họ.

Tuyên truyền và lừa bịp:

Song hành với những biện pháp trên là hành động tuyên truyền bịp bợm của chế độ, hòng lừa dối và bịt mắt người dân. Việc làm đó của họ không ngoài mục đích để cho người dân ngập chìm trong màn đêm của sự ngu dốt không lối thoát. Điều đó được thực hiện qua hệ thống truyền thông của chế độ, cùng với bộ máy cai trị được nhà nước lập ra.

Liệu tự do có được tự do?

Tình thế đó đưa người dân đến một bối cảnh không lối thoát. Chế độ độc tài nắm toàn bộ quyền lực trong tay, và đó là một cuộc chiến không cân sức cho những ai muốn vươn tới tự do. Sớm hay muộn thì những người dân việt nam cũng sẽ tìm đến được với lý tưởng tự do của mình, đến với những giá trị đích thực mà con người cần phải có. Bản thân tự do là tuyệt đối, nó không thể bị cầm tù. Dù những hiện thân của tự do đang bị giam giữ, thì ngay trong chốn lao tù sức mạnh của chân lý càng trở nên sáng rõ, làm cho những kẻ đại diện cho bạo quyền phải run sợ.
Khi người dân Việt Nam đoàn kết để tranh đấu cho các quyền tự do, dân chủ thì sẽ được tự do như ý nguyện. Những giá trị vĩnh hằng của con người sẽ được giải phóng và thuộc về sở hữu của toàn dân. Nhân dân Việt Nam sẽ lấy lại những gì lẽ ra phải thuộc về họ, đó là sự tự do đối với các giá trị tinh thần cùng những lý tưởng tốt đẹp cho cuộc sống tương lai.