Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2011

CÔNG LÝ Ở VIỆT NAM

“Khi nền dân chủ đã được xác lập, những người thực thi pháp luật một cách sai trái và bất công  hôm nay sẽ phải đền tội trước Nhân dân và sự thật. Tôi tin rằng Công lý phải được thực thi ở Việt Nam”.
                                                    (Trích lời của Luật Sư Nguyễn Văn Đài)
-------------------------------------o0o-----------------------------------------
Quyền Lực thay vì Pháp Luật
Một xã hội lành mạnh đúng nghĩa thì Pháp Luật là phương tiện duy nhất được sử dụng để điều chỉnh các mối quan hệ của con người, cũng như những tranh chấp phát sinh trong đó. Pháp luật là ý chí chung của cộng đồng, vì thế nó là thứ quyền lực cao nhất và duy nhất được phép đại diện cho cộng đồng dân cư đó.
Một nhà nước Pháp quyền là hình thức duy nhất hợp pháp trong thế giới dân chủ ngày nay. Nó nêu bật vai trò làm chủ của nhân dân trong việc quản lý xã hội và hạn chế đến mức thấp nhất những bất công sai trái do bộ máy nhà nước có thể gây ra cho người dân.
Với một nền Tư Pháp phụ thuộc và chịu sự điều khiển của Chính quyền như ở Việt Nam hiện nay thì không thể có tính khách quan trong việc bảo vệ pháp luật. Làm sao Công lý có thể được thực thi một cách đúng đắn và nghiêm chỉnh khi Tòa án không được tồn tại một cách độc lập? Vì thế mà pháp luật đã trở thành công cụ đàn áp của nhà nước đối với những tiếng nói chính nghĩa của người dân, là phương tiện để guồng máy Tư pháp tham nhũng nhờ bẻ cong pháp luật. Trong khi tất cả nỗi oan khuất và đớn đau thì Công lý và người dân phải gánh chịu.

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2011

Hoài vọng Bạch Đằng Giang

Trận chiến Bạch Đằng
Lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc, hễ có sự xâm lăng bờ cõi của giặc phương Bắc thì lại có anh hùng hào kiệt nổi lên chống lại, thời nào cũng vậy. Dân tộc Việt chúng ta tự hào về điều đó.

Nay giặc ngoại xâm phương bắc lại xâm chiếm bờ cõi, chiếm biển đảo và gặm nhấm đất liền của tổ quốc. Giặc ngang nhiên bắt bớ và bắn giết ngư dân nước Việt mà nhà nước không làm được gì để bảo vệ lãnh hải và người dân của mình. Giới cầm quyền trong nước không có một Ngô Quyền anh dũng mà chỉ thấy toàn lũ Việt gian bán nước Kiều Công Tiễn, một lòng cấu kết với nhau dâng Biển Đông cho giặc. Đã vậy còn nhẫn tâm đàn áp nhân dân mình biểu tình phản đối quân xâm lược. Ngày xưa tinh thần chống ngoại xâm của tiền nhân ta khôn ngoan, dũng mãnh biết bao!

Sử ghi rằng: nhận được lời cầu cứu của Kiều Công Tiễn, Lưu Cung bèn chụp ngay cơ hội tốt, phong con là Vạn Thắng Vương Hoằng Tháo làm Tĩnh Hải Tiết Độ Sứ, và mang quân sang đánh cướp nước ta. Lưu Cung cũng tự mình đem một cánh quân khác đến đóng ở Hải Môn để tiếp viện và chờ dịp tiến sâu vào nội địa. Vua Hán say sưa ôm mộng chiếm nước Việt một cách dễ dàng với đội quân hùng hậu của mình.
Hoằng Tháo chỉ huy thủy quân và được lệnh cho đoàn chiến thuyền hùng hổ tiến vào cửa sông Bạch Đằng.
Lúc bấy giờ, Ngô Quyền được sự ủng hộ của nhân dân một lòng quyết đánh quân ngoại bang xâm lược. Tin quân Hoằng Tháo tiến vào phía sông Bạch Đằng tới tấp được báo về. Ngô Quyền bình tĩnh, tự tin nói với các tướng tá: “Hoằng Tháo mang quân từ xa đến, quân lính mỏi mệt; quân ta sức còn mạnh địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Song họ có lợi ở thuyền lớn, nếu ta không phòng bị trước thì chuyện được thua chưa thể biết được. Nếu ta sai người đem cọc lớn đóng ngầm ở cửa biển trước, vát nhọn đầu mà bịt sắt. Thuyền của họ nhân khi nước triều lên, tiến vào bên trong hàng cọc, bấy giờ ta sẽ dễ bề chế ngự. Không kế gì hay hơn kế ấy cả”.

Vì được nhân dân ủng hộ, lệnh của Ngô Quyền vừa ban ra, nhân dân lập tức dồn lại thực hiện. Chẳng bao lâu cọc gỗ bịt sắt nhọn được chở về đầy sông và cắm chặt xuống lòng sông Bạch Đằng. Công cuộc chuẩn bị kháng chiến vừa xong thì chiến thuyền của giặc cũng vừa đến. Bấy giờ là mùa đông năm 938, một thời điểm mà sẽ mãi đi vào lịch sử chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc Việt chúng ta.
Nước triều từ từ dâng, chiến thuyền của giặc ồ ạt kéo từ biển vào cửa sông Bạch Đằng. Thực hiện kế hoạch đã định, một số chiến thuyền nhẹ của ta lao về phía giặc đánh bên trái, phá bên phải. Giặc đánh trả rất mạnh, thuyền của ta giả cách thua, rủ nhau tháo chạy. Giặc được thế hô quân đuổi gấp, kéo thuyền qua hàng cọc mà không hề hay biết. Nước bắt đầu rút, giờ quyết định đã đến. Ngô Quyền tự chỉ huy đại quân đổ ra từ 3 phía, đánh giết dữ dội. Chiến thuyền giặc hốt hoảng tán loạn, mất cả đội hình. Chủ tướng Hoằng Tháo cũng mất bình tĩnh. Giữa lúc đó thì cọc bịt sắt nhô lên khỏi mặt nước. Chiến thuyền to lớn, nặng nề của giặc và chạm vào nhau bị lật úp và đắm xuống nước. Những chiếc tháo chạy bị va vào cọc, bị nước cuộn xuống đáy sông hay vỡ ra từng mảng. Giặc càng hốt hoảng, thuyền bị đắm càng nhiều. Quân giặc chết đuối quá nửa. Một số chiến thuyền thoát được, đua nhau chạy nhanh về nước. Cuộc tiến quân bằng đường thủy của quân Nam Hán bị đánh tan tành. Vạn Thắng Vương Hoằng Tháo không những không nhất thắng mà còn bị giết ngay trong trận.

Tin thua lớn báo đến tai Lưu Cung. Y khóc lóc thảm thiết, bỏ mộng xâm lược nước Việt. Cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán của nhân dân ta hoàn toàn thắng lợi.
Chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền có ý nghĩa lịch sử to lớn. Nhà sử học Ngô Thời Sĩ (thế kỷ 18) cho rằng: “Thắng lợi trên sông Bạch Đằng là cơ sở sau này cho việc phục lại quốc thống. Những chiến công các đời Đinh, Lê, Lý, Trần vẫn còn nhờ vào uy thanh lẫm liệt để lại ấy. Trận Bạch Đằng là vũ công cao cả, vang dội đến ngìn thu há phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi đâu!”. Chiến thắng này còn có ý nghĩa vạch thời đại, hoàn toàn chấm dứt thời kỳ bị đô hộ, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc lâu dài.

Lịch sử Việt Nam chúng ta thời nào cũng oai hùng lẫm liệt, chưa bao giờ chịu khuất phục ngoại bang. Vậy mà ngày nay sinh ra một tập đoàn bán nước hèn hạ, ru rú bám giữ lấy quyền lực mà làm ngơ với an nguy của tổ quốc. Hiểm ác đối với dân mình nhưng lại hèn hạ với giặc ngoại xâm. Họ nhẫn tâm dâng một phần lãnh thổ cho giặc mà tiền nhân đã đổ biết bao xương máu để gây dựng.

Chỉ có nhân dân là vẫn như xưa, lòng yêu nước chưa bao giờ phai nhạt mà còn mạnh mẽ theo thời gian. Người dân cùng nhau xuống đường phản đối quân xâm lược, đòi chính quyền phải ra tay bảo vệ lãnh thổ quê hương. Tiếc thay, chính quyền bây giờ toàn là bọn Thái Thú hèn hạn thời hiện đại, không những không bảo vệ lãnh thổ mà còn nghe theo giặc đàn áp nhân dân mình. Dù bị đàn áp từ phía những kẻ cầm quyền cùng dân tộc, nhưng người dân Việt vẫn kiên gan biểu tình phản đối ngoại xâm, quyết đòi cho được chân lý. Hồn thiêng sông núi hãy về đây cùng nhân dân chống lại quân xâm lược. Đâu rồi Ngô Vương Quyền anh hùng đảm lược, quyết một lòng lãnh đạo nhân dân chống giặc, bảo vệ bờ cõi thiêng liêng? Hỡi hồn thiêng nước Việt, hãy về đây! Hỡi quân xâm lược, hãy nhớ lấy bài học trận chiến Bạch Đằng năm xưa!
Nhìn Bạch Đằng Giang dậy sóng, những cuộn sóng thủa nào đã dìm quân xâm lược ngông cuồng xuống đáy sâu, lòng bồi hồi xúc động. Nghe như đâu đây tiếng giáo gươm và tiếng quân reo hò dậy đất từ ngàn xưa vọng về, oai hùng và sống động. Ngẫm thế sự ngày nay mà lòng  không khỏi hoài vọng, tiếc nuối đến những ngày xa xưa:

“Bạch Đằng còn đó trơ trơ
Mà người năm cũ bây giờ nơi nao?”

                                                                                                                               

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011

Ánh Dương Ngày Mới

Khi một chế độ xã hội đã hết vai trò lịch sử thì phải lùi vào sân khấu chính trị để nhường chỗ cho một chế độ xã hội khác tiến bộ và phù hợp hơn với hoàn cảnh mới. Mỗi chế độ chính trị có một vai trò nhất định trong việc giải quyết những vấn đề nội tại của xã hội đó trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Vì thế cần có sự thay đổi thể chế chính trị cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử. Đó là quy luật tất yếu của quá trình phát triển lịch sử nhân loại.
 Tương ứng với mỗi thời điểm lịch sử thì phải có một chế độ chính trị - xã hội phù hợp để thực hiện những nhu cầu bức thiết và không thể thiếu của xã hội đó. Vì thế việc cố tình níu kéo sự tan rã của một chế độ xã hội đã hết vai trò lịch sử là việc làm vô nghĩa và trái với quy luật. Việc làm đó chỉ gây thiệt hại to lớn cho đất nước và dân tộc, cũng như tạo thêm những bất công và đau khổ cho người dân. Việc tồn tại một chế độ xã hội với mô hình lạc hậu, phản dân chủ sẽ mang lại nhiều hệ luy tai hại cho đất nước. Nó kìm hãm sự phát triển và tiến bộ của một đất nước, tách rời khỏi thế giới văn minh tiến bộ. Chưa kể, để bào chữa cho một thể chế chính trị sai trái và phi nhân tính, những kẻ cầm quyền tiến hành các thủ đoạn tuyên truyền lừa dối nhằm ngu dân và các biện pháp đàn áp phi pháp khác. Bản thân chế độ độc tài đối lập với công lý và tự do, vì thế mà các tội ác đã không ngừng gia tăng để cấm đoán và trói buộc các giá trị tiến bộ.

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

Chính Trị hà khắc dữ hơn cả Hổ

                                                  
Một lần Khổng Tử đi qua Thái Sơn, thấy có người phụ nữ ở trước nấm mồ khóc lóc vô cùng thảm thương. Ông bèn bảo Tử Lộ ra hỏi nguyên nhân, người phụ nữ ấy nói: "Bố chồng bị hổ ăn thịt, chồng bị hổ ăn thịt, bây giờ con trai cũng chết trong miệng hổ, thì không đau lòng sao được?". Khổng Tử hỏi: "Sao các ngươi không dọn đi ở chỗ khác nhỉ?". Người phụ nữ nói: "Ở đây không có chính trị hà khắc, không có áp bức bóc lột, nên bị hổ ăn thịt cũng không dọn đi". Khổng Tử nghe xong nói với các học trò của mình: - Các trò hãy nhớ lấy: “Chính trị hà khắc dữ hơn cả hổ”.
Câu nói này của Khổng Tử là sự tổng kết chính trị đen tối, đời sống dân chúng bấp bênh thời Xuân Thu. Chính là nhằm vào nền chính trị hà khắc và tàn bạo đương thời. Nguyên là thời kỳ này, các chư hầu tranh giành nhau, nội chiến liên miên. Chiến tranh đã làm cho vô số người dân vô tội phải bỏ mạng, sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Hơn thế nữa, thuế khóa không ngừng tăng cao để đáp ứng nhu cầu xa hoa của tầng lớp thống trị. Đời sống chính trị hà khắc tàn bạo, nhân dân phải chịu lầm than khổ cực và cuộc sống điêu linh. Vì thế mới có câu chuyện kể trên. Điều đó cũng chứng tỏ rằng: Nhu cầu về một xã hội tốt đẹp và nhân ái của người dân vượt cả nhu cầu về vật chất.
Nguyện vọng của con người luôn là được sống trong một xã hội tự do và nhân bản. Ước muốn tốt đẹp và chính đáng đó là động lực thúc đẩy các cuộc đấu tranh cách mạng đòi hỏi quyền lợi cơ bản và quyền làm người. Nhu cầu đó càng trở nên bức thiết trong một xã hội mà thiếu vắng đi các quyền tự do, dân chủ. Một nền chính trị hà khắc, thiếu tôn trọng nhân quyền là nguyên nhân khiến cho người dân phải rời bỏ đất nước để tìm bến đỗ tự do. Người Việt Nam ta có câu: “Đất lành chim đậu”, ở đâu có tự do dân chủ thì ở đó có sự hội tụ của con người. Chỉ thấy người dân trốn chạy chiến tranh và chế độ độc tài, chưa thấy người ta trốn chạy tự do dân chủ bao giờ cả!
Sau biến cố lịch sử 30/4/1975, hàng triệu đồng bào Việt Nam đã bỏ nước ra đi. Họ trốn chạy bằng nhiều con đường và cuối cùng cũng đến được với bến bờ tự do.Nhiều người trong số đó đã phải bỏ mạng nơi đại dương sâu thẳm trên hành trình đến với vùng đất mới. Họ thà chết trên biển cả chứ không chịu ở lại để chịu sự đày đọa của một chế độ độc tài mang tên: Cộng sản. Sự thực đã chứng minh điều đó, những người ở lại bị bỏ tù và chịu sự đọa đày trong các trại cải tạo. Vì vậy mà nhiều người đã bị chết trong tù. Nếu chính quyền Cộng Sản vì hạnh phúc của con người  thì tại sao người dân phải bỏ nước ra đi, bất chấp hiểm nguy và gian nan? Nếu chính trị tốt đẹp thì dù có bị hổ ăn thịt như câu chuyện kể trên thì người dân cũng không từ bỏ quê hương, bỏ  nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Vậy là chúng ta đã hiểu chế độ Cộng Sản như thế nào rồi, nó khiến người ta ghê sợ hơn cả cái chết.
Cho đến mấy chục năm sau, người dân Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi vòng xiềng xích lẩn quẩn của mình. Tệ nạn tham nhũng cùng nền chính trị độc tài đã làm cho cuộc sống người dân trở nên nghèo khổ và điêu đứng. Họ đứng trước một hình thức bóc lột mới, một kiểu bóc lột từ những kẻ tự xưng là “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”. Và những người lao động có sức khỏe đã phải tìm cách để được đi xuất khẩu lao động nước ngoài, sau khi đã đóng một khoản tiền lớn bằng cả gia tài cho các công ty môi giới để mong được đổi đời. Vì rằng ở nước ngoài, dù chỉ bằng sức lao động thủ công thì họ cũng được đối xử theo luật lệ và được trả lương theo họ là xứng đáng hơn. Khi làm việc trong nước thì tiền lương của họ không đủ để sống qua ngày, nói gì đến chuyện nuôi sống những người trong gia đình. Các cô gái đến tuổi trưởng thành phải chọn con đường lấy chồng nước ngoài để rồi bị đối đối xử tàn tệ hoặc gả bán cho những người già cả, mù lòa, bệnh tật. Nhiều cô thiếu may mắn hơn còn bị gả bán cho một anh chồng mắc bệnh tâm thần, hậu quả là bị người chồng giết chết trong một hành động vô thức. Nhà nước thì vẫn xuất khẩu người dân của mình như những món hàng, tương tự hình thức buôn bán nô lệ từ Châu Phi sang Tân thế giới của các nước thực dân trước đây. Các cơ quan chức năng không hề quan tâm người lao động của mình được đối xử như thế nào tại các quốc gia mà họ đến làm việc

Người dân Việt Nam vô cùng điêu đứng bởi sự đàn áp của một chế độ độc tài toàn trị. Dù bị bóc lột hay bán đi xuất khẩu thì họ không bao giờ dám lên tiếng phản đối. Trong con mắt của người dân, nhà nước Cộng Sản còn dữ hơi cả loài lang sói.

Thể chế chính trị của một quốc gia có vai trò vô cùng quan trọng, bởi phạm vi ảnh hưởng và tính chất phổ cập đối với cuộc sống con người. Một nền chính trị tốt đẹp và dân chủ thì người dân được sống hạnh phúc và an toàn. Ngược lại, một nền chính trị hà khắc và phi nhân sẽ gây nên bất hạnh và khổ đau cho con người. Thật là thấm thía thay câu nói của Đức Thánh Khổng Tử: - Các trò hãy nhớ lấy: Chính trị hà khắc dữ hơn cả hổ”.

 

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

Cù Huy Hà Vũ – Bản án cho chế độ

 Phiên tòa ô nhục và người chiến sĩ tự do

Tiến sĩ Vũ tại phiên tòa
Dư luận trong và ngoài nước đã biết nhiều đến vụ án phúc thẩm xét xử Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ tại Hà Nội sáng ngày 02/8/2011, với tội danh “Tuyên truyền chống nhà nước XHCN”. Đây là vụ án thu hút được sự chú ý của đông đảo những người yêu tự do – công lý, gây nên nỗi bức xúc và phản đối mạnh mẽ từ mọi tầng lớp nhân dân đối với hệ thống tư pháp của nhà cầm quyền. Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, một con người yêu nước, một chiến sĩ tranh đấu cho tự do, dân chủ tại Việt Nam đã bị chính quyền trả thù hèn hạ trong một phiên tòa được giàn dựng. Người con của nhân dân đã bị áp giải bởi lực lượng an ninh đông đảo của chế độ trong suốt quá trình diễn ra phiên tòa, nhưng anh luôn nằm trong vòng tay yêu thương của đồng bào mình và những người yêu tự do, công lý.
Những tưởng cũng cần nhắc lại, cách đây gần bốn tháng Tiến sĩ Vũ đã bị xét xử tại phiên tòa sơ thẩm ngày 04/4/2011. Một phiên tòa mà theo dư luận quốc tế đánh giá thì đó là sự vi phạm nghiêm trọng quy trình tố tụng, cũng như mức độ coi thường công lý và dư luận của hệ thống Tư pháp do nhà nước điều khiển. Tại phiên tòa này Tiến sĩ Vũ đã bị kết án 7 năm tù giam và 3 năm quản chế, đó là mức án dành cho một người yêu nước, yêu tự do dân chủ. Đối mặt với lời kết tội của tòa án là thái độ can trường của Cù Huy Hà Vũ, một chiến sĩ tranh đấu cho tự do. Trước sức mạnh của bạo quyền và bất công ông chỉ kịp nhìn về phía đồng bào mình nói lớn: “Nhân dân và Dân tộc sẽ phá án cho tôi”, rồi bị lực lượng an ninh áp tải ra xe tù.

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

Trọng Dụng Hiền Tài

Thực tiễn lịch sử các quốc gia xưa cũng như nay đã chứng minh rằng: Được nhân tài thì đất nước thịnh vượng, được người tài thì sự nghiệp phát đạt. Những ví dụ để minh chứng cho điều này thì nhiều không kể xiết.

Tam cố Thảo Lư
Hán Cao Tổ Lưu Bang, chức nghiệp của bản thân vốn không phải là lớn. Nhưng do ông dùng được được những người tài giỏi như Trương Lương, Tiêu Hà, Hàn Tín nên đã thành sự nghiệp, thống nhất được Trung Nguyên. Nước Trịnh thời Xuân Thu là một nước nhỏ yếu, nhưng do dùng được Tử Sản làm tướng mà suốt mấy chục năm trong ngoài yên ổn. Việt Vương Câu Tiễn do trọng dụng được các quan thượng đại phu là Văn Chủng và Phạm Lãi nên mới làm cho nước Việt cường thịnh và phục được thù, tiêu diệt nước Ngô. Tề Hoàn Công do dùng được Quản Trọng nên mới hội họp được 9 nước chư hầu, làm nên nghiệp Bá. Lưu Bị nhờ có Gia Cát Lượng nên mới thực hiện được việc chia ba thiên hạ...

Khổng Tử cho rằng: “Tài nan, bất kỳ nhiên hồ? Đường Ngu chi tế, vu tư vi thịnh”, câu ấy có ý nghĩa là nhân tài thực khó có được, chẳng như vậy sao? Từ Đường Nghiêu, Ngu Thuấn đến Ân, Chu, trong thời gian trên 1000 năm nhân tài xuất hiện rất ít. Chỉ đến đời Chu thì nhân tài thịnh, điều đó chứng tỏ là rằng nhân tài là rất khó có được sao? Có thể nói có được nhân tài là may mắn của một quốc gia và là cái phúc của người lãnh đạo. Vậy thì phải làm sao để có thể có được hiền tài và giữ chân được họ?

Câu hỏi này từ xưa đã là mối quan tâm lớn của các vì vua cũng như những nhà quản lý thời nay. Nguyên nhân và cách thức để có được nhân tài thì bằng nhiều con đường, nhưng tựu trung lại cần phải có mấy điều kiện sau:

Trước hết là phải biết phát hiện người tài, trọng dụng và cho họ làm công việc hợp với sở trường của mình. Được như thế họ sẽ hết lòng phục vụ lý tưởng, phục vụ chính nghĩa để mang lại lợi ích thiết thực cho đất nước hoặc tổ chức, đơn vị. Tuy nhiên, không dễ gì giữ chân được hiền tài, những điều kiện trên là cần thiết nhưng chưa phải là tiên quyết. Điều quan trọng bậc nhất là môi trường làm việc phải phù hợp, tốt đẹp để người tài có thể đóng góp cũng như phát huy hết sở trường của mình cho sự nghiệp chung.

Lưu Bị cầu Hiền
Đất nước Trung Quốc rộng lớn và có dân số đông đúc, nhân tài xưa và nay đều có nhiều ở mọi lĩnh vực. Tuy nhiên quốc gia này hiện nay đang trong chế độ chính trị độc tài, những nhân tài đã phải bỏ nước ra đi vì nền chính trị khắc nghiệt khiến cho khả năng trí tuệ của họ không thể phát triển được. Có thể nói, người Trung Quốc đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế và văn hóa tại các quốc gia mà họ sinh sống hơn là tại tổ quốc mình.

Người dân Trung quốc cũng đang phải chịu một thể chế chính trị độc tài như Việt Nam, vì thế mà có nhiều điểm tương đồng. Nhân tài đã không được coi trọng trong một chế độ mà việc quản lý xã hội chỉ bằng mệnh lệnh, bạo lực và sự vi phạm nhân quyền. Các giá trị tự do là điều kiện tiên quyết để phát triển khả năng trí tuệ thì lại bị hạn chế và cấm kỵ nên khó có được những phát kiến mới. Đó là vấn đề mà người dân của cả hai quốc gia láng giềng này phải gánh chịu trong một thời đại mà lẽ ra các giá trị của tự do phải được đề cao và tôn trọng.

Người Việt Nam chúng ta vốn nổi tiếng là cần cù, thông minh hiếu học, chỉ mong có được một môi trường xã hội tốt đẹp để có thể đóng góp hết sức lực và trí tuệ của mình cho đất nước, xây dựng một xã hội giàu mạnh và văn minh. Với một xã hội chỉ coi trọng bằng cấp giả tạo mà coi rẻ chân tài thực học thì các nhà khoa học cũng như trí thức tài năng chỉ bị rẻ rúng mà không được trọng dụng. Họ chỉ còn cách bỏ nước mà ra đi để có thể phát huy được khả năng trí tuệ của mình hoặc sống một cuộc sống thừa và vô nghĩa tại một đất nước tôn thờ lý tưởng cộng sản hơn là trí tuệ và phẩm giá con người.

Mới đây Giáo sư Ngô Bảo Châu là một người Việt Nam sinh sống tại Pháp nhận được một giải thưởng toán học cao quý do nhà nước Ấn Độ trao tặng. Giải thưởng này được coi là Nobel của toán học, ông được nhiều tổ chức và cá nhân ngưỡng mộ và mời gọi. Một nhân tài hiếm có như thế về lĩnh vực Toán học thì thật hữu ích cho quốc gia và xã hội. Tiếc thay, trí tuệ và tài năng của Ngô Bảo Châu không thể phục vụ cho đất nước Việt Nam vì môi trường làm việc không đảm bảo, không thể khiến cho ông có thể đóng góp khả năng của mình cho nhân loại được. Để khỏi mang tiếng là rẻ rúng và bạc bẽo nhân tài, nhà nước cũng mời ông về thăm quê hương và nhờ ông giúp đỡ phát triển nền Toán học Việt Nam. Là một người tâm huyết với nền khoa học nước nhà nhưng giáo sư Châu cũng không thể ở lại Việt Nam làm việc. Về nước được mấy hôm ông được chứng kiến cảnh văn phòng làm việc của một nhóm nhà khoa học Việt Nam bị đóng cửa chỉ vì những ý kiến đóng góp đúng đắn và thẳng thắn của họ với nhà nước về hiện tình phát triển đất nước, Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ (một người cũng từng du học tại Pháp Quốc như ông) bị bắt giam vì đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền.

Nhân tài là nguyên khí của quốc gia, những người này là nhân tài của đất nước mà bị đối xử rẻ rúng và thô bạo như vậy thì làm sao mà đất nước có thể cường thịnh? Ngẫm việc người ta đối xử sốt sắng với mình cũng chỉ là hình thức và để lừa dối dư luận nên giáo sư Ngô Bảo Châu đã vội vã trở về Pháp Quốc, nơi ông sẽ sống là làm việc để đóng góp cho nền khoa học nhân loại. Thật là hú hồn, suýt nữa thì giáo sư Ngô Bảo Châu bị một cú lừa ngoạn mục! Và ông thấy rằng cách thiết thực nhất hiện nay để đóng góp cho đất nước là lên tiếng phản đối nhà cầm quyền đã đối xử thô bạo với các nhà dân chủ và khoa học trong nước. Vì ông hiểu rằng cần phải dân chủ hóa đất nước Việt Nam thì nhân tài mới được coi trọng và có môi trường làm việc tốt đẹp để góp phần xây dựng đất nước.

Hành động và ứng xử của giáo sư Ngô Bảo Châu chứng tỏ ông là một người có trí tuệ trác tuyệt. Với nhãn quan của mình, bối cảnh xã hội Việt Nam đã được ông nhìn nhận và đánh giá một cách sâu sắc và chuẩn xác. Qua tấm gương phản chiếu của giáo sư Ngô Bảo Châu thì bộ mặt thật của nhà cầm quyền đối với giới trí thức và khoa học tại Việt Nam đã được phơi bày một cách chân thực. Thật là một bài học sâu sắc về việc “Trọng dụng Nhân Tài” của nhà nước Việt Nam ngày nay, hẳn ai cũng có thể hiểu và đồng ý được điều này, ngoại trừ Chế độ!

Hình pháp và chữ Tín của người xưa

       Chúng ta đang sống trong một chế độ độc tài hoang tưởng, vì thế mà đầy rẫy những điều phi lý và nực cười. Chế độ Cộng sản không khác Phong kiến là mấy, thêm vào đó là sự hà khắc và phi nhân, khiến cho người dân phải gánh chịu bao nổi bất công ngang trái. Từ nay Minh Văn ra mắt độc giả Chuyên mục Chuyện xưa - Chuyện nay, với mong muốn phản ánh hiện thực xã hội đầy nghịch lý và bất công đó
--------------------------------------o0o---------------------------------------

      Thời Chiến Quốc, năm Tần Hiếu Công thứ 6 (năm 350 trước công nguyên), Thương Ưởng nhận chức Tả thứ trưởng ở nước Tần, nắm quyền quân sự và chính trị nên đã quyết định ban bố biến pháp (sửa đổi pháp lệnh của Nhà nước). Mệnh lệnh đã chuẩn bị sẵn sàng, nhưng vẫn chưa ban bố. Nguyên do là ông sợ dân chúng không tin vào lệnh này. Thương Ưởng liền cho dựng một cây cột gỗ cao ba trượng ở cửa Nam thành đô của nước Tần, bố cáo rằng ai có thể chuyển cây gỗ đó đến cửa Bắc sẽ thưởng 10 cân vàng. Dân chúng đều cho đó là chuyện quái lạ nên không ai dám động tay để chuyển cây gỗ đi. Tiếp theo Thương Ưởng lại tuyên bố: “Người nào chuyển được cây gỗ đó sẽ được thưởng 50 cân vàng”. Liền lúc đó có một người chuyển cây gỗ đến cửa Bắc. Và thế là người đó hiển nhiên được thưởng 50 cân vàng. Sau đó Thương Ưởng hạ lệnh ban bố biến pháp. Kết quả là ông ta đã đạt được thành công lớn vì được dân chúng tin theo. 

      Muốn biến đổi thì trước hết phải làm cho dân chúng tin vào sự biến đổi đó. Ở đây, Thương Ưởng đã khéo léo lấy lòng tin của dân chúng để làm tiền đề cho sự thay đổi pháp lệnh của mình. Kỳ thực, tất cả các quyết sách của quốc gia, việc gì cũng cần đến lòng tin và sự ủng hộ của dân chúng. Người xưa đã coi trọng vai trò của người dân, đề cao pháp luật và tín nghĩa trong việc quản lý đất nước như vậy. Đó là một bài học sâu sắc và có ý nghĩa to lớn cho hậu thế.