Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2011

Dân Vi Quý


Trong thời đại văn minh ngày nay, chế độ dân chủ đã được xác lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới; và tư tưởng Dân Chủ không còn xa lạ với nhân loại: Đó là người dân có quyền làm chủ đất nước và tự quyết định vận mệnh của chính mình. Tiếc rằng ở nước ta thì không được như vậy, dù là tư tưởng tiến bộ đó đã có ở các nhà tư tưởng thời cổ đại. Mạnh Tử - người đã tiếp tục và phát triển một cách xuất sắc học thuyết của Khổng Tử - có nói rằng: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Câu ấy có nghĩa là: Dân làm quý, xã tắc là thứ, vua làm khinh. Chúng ta có thể thấy rõ tư tưởng trọng dân, đặt vị trí của người dân lên trên nhà vua của Mạnh Tử, khi ông cho rằng: Dân vi quý, quân vi khinh.

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2011

Sự khác nhau giữa hai cuộc Nội Chiến



 Lễ ký văn kiện đầu hàng, tướng
Grant bắt tay tướng Lee (Áo xám)
Trong quá trình hình thành và phát triển, lịch sử quốc gia nào cũng có những cuộc nội chiến. Đó là cuộc chiến của những người cùng một quốc gia, dân tộc. Sự xung đột nội bộ sẽ dẫn đến những tổn thất to lớn và gây chia rẽ trong lòng dân tộc. Vì thế việc hàn gắn vết thương sau chiến tranh để đất nước sớm được phục hồi và vững tiến trên con đường phát triển là điều cấp thiết. Tuy nhiên mỗi quốc gia có một cách thức thực hiện khác nhau, điều đó dẫn tới sự khác biệt cho sự tái thiết sau chiến tranh. 
Với một quá trình hình thành mới mẽ nhưng nước Mỹ đã phải chứng kiến cuộc nội chiến lịch sử. Một cuộc nội chiến mà đã đem lại bài học sâu sắc cho nhiều quốc gia từ đó trở về sau.

Thứ Hai, 12 tháng 9, 2011

Quốc Hội Việt Nam đại diện cho ai?

Họ quan tâm điều gì?
HT Ba Đình - nơi diễn ra các kỳ họp Quốc Hội
     Quốc Hội (hay Nghị Viện) là cơ quan dân cử. Đại biểu Quốc Hội là những người đại diện cho nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân. Quốc Hội thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước, trong đó có quyền lập Hiến và lập Pháp. Vì thế mà trong cấu trúc bộ máy nhà nước, Quốc Hội có một vai trò quyền lực to lớn. Tiếng nói của Quốc Hội quyết định mọi vấn đề mang tầm vóc quốc gia. Vì đó là ý nguyện của người dân, nó có vai trò quan trọng nhất.

     Chuyện là vậy, nhưng chúng ta hãy xem ở Việt Nam, cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc Hội ấy hoạt động như thế nào?

     Nhà nước Việt Nam tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền, và đó là sự thực lịch sử. Nhưng quốc gia láng giềng là Trung Quốc đã xâm chiếm gần trọn hai quần đảo nói trên, lập đơn vị hành chính và ghép vào bản đồ của họ. Việc bảo vệ biển đảo là điều tối quan trọng đối với dân tộc Việt Nam. Vấn đề này phải được Quốc hội bàn thảo trong chương trình nghị sự, đồng thời ra nghị quyết về chủ quyền đất nước. Vậy mà khi Trung Quốc gây hấn và chiếm biển đảo, bắn giết ngư dân Việt Nam trong suốt thời gian qua, các phiên họp của Quốc Hội không hề nhắc đến chuyện này. Các đại biểu coi như không hay biết vấn đề cấp bách mà cả thế giới đều biết kia, ngoại trừ ý kiến của một vài đại biểu có tâm huyết. Còn nhiều vấn đề hệ trọng khác nữa như khai thác tài nguyên, bảo đảm các quyền tự do dân chủ, giải quyết tệ quan liêu tham nhũng, cùng bao nhiêu nỗi oan khuất của người dân... cũng bị Quốc Hội bỏ qua.

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2011

Gánh Quan trả cho Nhà Chức Trách

Xã hội ngày nay chỉ trọng bằng cấp hình thức mà không xét đến chân tài thực học, vì thế mà đầy rẫy những vị Tiến sĩ giấy nghênh ngang bảnh chọe. Những người này nắm trong tay những học hàm, học vị cao mà không có chút gì gọi là tri thức để giúp dân giúp nước. Đối với họ bằng cấp là phương tiện để có chức, quyền cho tiện việc bóc lột và cai trị nhân dân. Những học vị đó họ mua được và không cần phải học, và nếu có học thì cũng chỉ là chiếu lệ và hình thức. Bằng cấp ngày nay vì thế mà trở thành một mớ giấy lộn ghi học vị, nhưng những vị quan tham nhũng cần có nó để leo lên những vị trí cao hơn trong xã hội. Có bằng thật học giả và có bằng giả học giả, nói tóm lại tất cả đều là giả dối. Hậu quả thì xã hội phải gánh chịu, mất thời gian và tiền bạc của nhân dân mà chẳng có lợi lộc gì cho đất nước. Cách tuyển chọn quan chức thời trước tuy không hẳn thích hợp với bối cảnh xã hội ngày nay, song tuyển quan qua những kỳ thi khảo hạch học lực là một quan niệm đúng đắn.

 Xã hội Phong Kiến Việt Nam gắn liền với học thuyết Nho Giáo của Khổng Tử. Đây cũng là nền tảng tri thức được sử dụng trong thi cử ở nước ta thời xưa. Kỳ thi đầu tiên mở năm 1075 và kỳ thi cuối cùng năm 1919. Trong suốt một ngàn năm, học thuyết đó là rường mối tri thức và tư tưởng của người Việt. Nhà nước phong kiến tuyển chọn quan lại cao cấp qua các kỳ thi mở cho mọi người tham gia. Việc khảo hạch gồm có những bài văn sách, chính trị, làm thơ, v.v... Lúc nào cũng có nhiều người thi và rất ít người được đỗ. Từ năm 1075 đến năm 1919, chỉ có hơn hai nghìn người đỗ Tiến sĩ. Những người thi đỗ được nhận áo mão của Vua ban. Khi vinh quy về làng họ được chính quyền địa phương đón tiếp trọng thể, có kèn trống, cờ quạt đón rước linh đình.

Vinh quy bái tổ
Các khoa thi Hương tổ chức ở địa phương, tuyển chọn Tú Tài và Cử Nhân. Những người trúng tuyển được dự khoa thi Hội tổ chức ở Kinh đô, dưới sự giám khảo của Nhà Vua, nhằm đạt danh hiệu Tiến sĩ. Những người trúng tuyển thi Hương và thi Hội đều có thể ra làm quan, là thành viên của một bộ máy nắm mọi quyền điều hành công việc hành chính quốc gia. Dùi mài kinh sử để ra làm quan là ước mơ cao nhất của các sĩ tử trong nhiều thế kỷ. Với quan niệm: Học trước hết là để tu thân, rồi mới đến tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, các nho sĩ đã coi việc tích lũy tri thức chính là học đạo. Đó là đạo làm người, đạo của người quân tử. Học để biết nhìn nhận và đánh giá sự vật cho đúng với đạo lý, để rèn luyện con người: “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý”. Xuất phát từ quan điểm tư tưởng trên mà người Việt trở thành một dân tộc hiếu học và có truyền thống tôn sư, trọng đạo:

“Muốn sang thì bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”

Những người làm quan có tri thức đều thông làu kinh sử và biết làm thơ, viết văn. Đó là nền tảng tri thức của một con người có học thức và tài năng. Vì vậy người dân coi như đó là một chuẩn mực không thể thiếu của những người được coi là cha mẹ dân. Những ông quan dốt nát, không biết làm thơ bị dân chúng xem thường, mỉa mai và coi đó là những ông quan chạy chức, chạy quyền. Từ đó mà có câu chuyện thú vị dưới đây:

Thời Pháp thuộc, đạo Nho cùng đường nên suy vi, đã trở nên thứ yếu trong việc tuyển lựa công chức nhà nước. Chính quyền tồn tại hai hệ thống quản lý song song: Các công chức theo Tây học do Pháp đào tạo, và các quan lại địa phương theo Nho học. Có lần dân huyện nọ gánh một ông quan đến trả cho Nhà Chức Trách Pháp. Khi nhà chức trách hỏi lý do làm sao lại gánh trả thì những người dân trả lời: “Ông quan này không phải là khoa bảng, vì không biết làm thơ”. Câu thơ của cụ Tam nguyên Yên Đổ đến đầu thế kỷ 21 này mà vẫn còn ứng nghiệm ở xã hội Việt Nam:

“Tấm thân giáp bảng sao mà nhẹ
Cái giá khoa danh ấy mới hời”.


Ngày xưa những ông quan dốt thì bị dân chê cười như vậy, số này chẳng thấm vào đâu so với ngày nay. Không thể dùng quang gánh nào cho xuể để gánh trả những ông quan dốt. Nhiều vị Tiến sĩ thời nay chỉ giỏi nịnh bợ và đút lót để được thăng quan tiến chức, đầu óc thì dốt nát nhưng thủ đoạn tham ô và vùi dập người dân thì có thể gọi là thiên tài. Họ ra rả nói như vẹt về đường lối, chủ trương chính sách của đảng và nhà nước mà không hiểu để làm gì. Khi có người hỏi về Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín thì họ ú ớ mà không hiểu mô tê gì cả. Thật là nực cười cho chuyện học ngày nay.


Nên nếu Nhân Dân được quyền chọn Quan thì tất phải dùng xe ô tô tải để chở, thì mới trả hết cho nhà nước những ông quan cán bộ Tiến sĩ giấy thời này. Với những người quyền cao, chức cả mà có ý thức như thế về học vấn thì thử hỏi những thế hệ về sau sẽ như thế nào?
Thật là buồn thay cho tương lai của đất nước chúng ta!