Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Trọ học


 “Nhà trọ thể thao”, ấy là biệt hiệu khu trọ hồi ấy của chúng tôi. Dãy nhà trọ được chia thành 5 phòng rộng đều nhau, tôi cùng một cậu sinh viên nữa rủ nhau thuê căn phòng ở đầu hồi. Phía trước là khoảng sân rộng tiếp giáp với con ngõ của khu phố. Đối với chúng tôi, cái sân này là một không gian tự do quý báu, nơi diễn ra những trận cầu nảy lửa vào mỗi buổi chiều. Vì nhà được xây theo kiểu cũ nên có cả bậc thềm rộng, khán giả lẫn trọng tài thường ngồi cả ở đây để mà giám sát và cổ vũ cho trận đấu.
Với cánh sinh viên xa nhà, trọ học đã trở thành cuộc sống thường nhật.  Các bạn thành phố được học gần nhà thì lại ước muốn có cuộc sống như chúng tôi. Trọ học là một cuộc sống thú vị, tuy phải nếm trãi nhiều khó khăn thiếu thốn vì phải sống xa gia đình. Khó khăn về chỗ ở và phương tiện sinh hoạt, thiếu thốn tình cảm của những người thân. Nhưng bù lại có sự gắn kết tình cảm của những con người đang sinh sống xa quê. Ở trọ cũng như hành quân đánh trận, tiện đâu ở đấy, khi cần lại dời đi ngay, nhiều khi còn quên mang theo cả những vật dụng thiết yếu nữa. Vì hoàn cảnh phải vậy, cũng là để thuận tiện hơn cho chuyện học và công việc mà thôi. Điều quan trọng là phải có sự thống nhất ý kiến của các thành viên cùng thuê trọ, vì mỗi người học ở một trường khác nhau. Yếu tố cuối cùng không thể thiếu, đó là giá cả hợp lý, phải làm sao để tất cả đều chấp nhận được.

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012

Cú Mèo chỉ thích bóng đêm

Cú Mèo là loài chim chuyên săn mồi về đêm. Bởi vậy, màn đêm tăm tối là môi trường hoạt động ưa thích và sống còn của chúng. Ngay cả trong đêm tối mịt mù, loài cú mèo cũng có thể dễ dàng định vị chính xác con mồi. Ẩn mình trong bóng tối chờ cơ hội, chỉ cần một cú lao mình như chớp, số phận con mồi coi như đã được định đoạt. Là một họ thuộc Bộ Cú, Cú Mèo là anh em họ hàng thân thích với Chim Cú Lợn; chúng phân bố rộng khắp thế giới, trừ Châu Nam Cực.
Bởi thế cho nên, khi muốn ám chỉ những thế lực xấu xa tồn tại trong bóng tối, người ta thường ví với loài Cú Mèo - chúa tể của bóng đêm.
Có một chế độ nhà nước tồn tại nhờ sự ngu dốt và lạc hậu của người dân. Nhà nước đó lấy chủ trương lừa dối và ngu dân làm quốc sách hàng đầu. Vì thế mà đất nước chìm trong tăm tối, người dân sống trong sợ hãi và ngu dốt. Chế độ đó là gì vậy, và cái đảng độc ác kia ở đâu? Xin thưa rằng: Đó là chế độ độc tài của đảng Cộng sản. Bằng chính sách bưng bít và kiểm duyệt thông tin, đảng Cộng sản đã biến người dân của mình thành những kẻ thiểu năng trí tuệ, sống nô lệ ngay trên chính đất nước mình.

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

Mùa Cưới

Cái không khí se lạnh cuối Đông thật phù hợp cho việc tổ chức những đám cưới hỏi trọng đại. Nhiều trai thanh gái lịch chọn thời điểm này cho cái ngày quan trọng nhất của đời mình, ngày kết thành đôi lứa. Vì vậy mà người ta thường gọi thời gian lý tưởng này là mùa cưới. Lúc này thời tiết ít có mưa giông, chỉ có những giọt mưa phùn lất phất điểm tô cho không khí đưa dâu thêm phần lãng mạn. Những giọt mưa đọng trên mái tóc các cô gái như những giọt sương long lanh, làm duyên cho vẻ đẹp thiếu nữ. Thời gian bấy giờ như ngưng đọng, phố phường Hà Nội tấp nập những xe hoa chở cô dâu và quan viên hai họ, gợi chút tò mò cho người đi đường. Cũng có người nén tiếng thở dài vì chợt nhận ra mình vẫn còn lẻ loi, đơn chiếc. Những chiếc xe kết hoa, mặt kính đằng trước thì dán hai chữ “Song Hỷ” trông vui mắt và sống động, thấp thoáng ánh mắt nụ cười mãn nguyện của cô dâu và chú rể ngồi phía trong xe.
Đến mùa cưới, phần lớn các đôi chọn tổ chức lễ cưới theo kiểu Âu hóa, vừa đơn giản vừa có vẻ hiện đại. Họ đặt tiệc cưới tại nhà hàng, tại đây người ta có những phòng lớn để trang trí như một rạp cưới, bàn ghế cũng đã có sẵn cho quan khách. Việc nấu ăn và phục vụ được chuyên môn hóa, vì thế mà mọi thứ trông thật đẹp mắt và chuyên nghiệp. Khách khứa chỉ việc đến chúc mừng và tặng quà, sau đó tiệc tùng vui vẻ rồi ra về. Những thắng cảnh nổi tiếng của Thủ đô như Hồ hoàn kiếm, hồ Tây, Nhà hát lớn, công viên Thủ Lệ...là nơi chụp ảnh ưa thích của các đôi uyên ương. Trang phục mà người ta thường thấy là chú rể mặc comle và cô dâu mặc váy cưới kiểu Tây. Ai muốn hướng về cội nguồn hơn thì chọn trang phục cổ truyền, nữ mặc áo dài ta và đội mũ xếp, nam vận áo dài kiểu các liền anh Quan họ thường mặc.

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

Một Vụ Đấu Tố

Thế kỷ 21, năm 2011, tháng x, ngày y...
Buổi sáng tại trụ sở uỷ ban nhân dân Phường, thuộc một huyện ngoại thành Hà Nội.
Mới 7h 15 phút, người ta đã nghe rõ tiếng loa phóng thanh phường oang oang: “A lô, a lô...chúng tôi xin thông báo cùng bà con tổ dân phố. Hôm nay ngày y tháng x, tại trụ sở UBND phường có diễn ra buổi xét xử của quần chúng nhân dân đối với đối tượng phản động Nguyễn Văn A về hành vi xuyên tạc đường lối Xã hội chủ nghĩa và tuyên truyền nói xấu các đồng chí lãnh đạo đảng, nhà nước. Mong bà con có mặt đông đủ để chứng kiến buổi họp nói trên...”
Không khí tại trụ sở Uỷ ban nhân dân Phường nóng dần lên. Đám người tụ tập mỗi lúc một đông, nhiều kẻ mặt đỏ ngầu vì rượu đang khạc nhổ và chửi bậy để khởi động cho một buổi đấu tố tưng bừng sắp diễn ra. Đoàn người mà theo lời của chính quyền địa phương thông báo là hàng trăm quần chúng Nông dân hiền lành chân chất, vì bức xúc với hành vi “phản động” của đối tượng Nguyễn Văn A nên đã có mặt để kể tội và vạch trần âm mưu của các thế lực thù địch.
Chủ nghĩa Mac - Le nin vô địch muôn năm?
Bên trong hội trường mọi thứ đã chuẩn bị sẵn sàng. Dãy bàn ghế phía trên là của các đồng chí lãnh đạo địa phương chủ trì buổi đấu tố. Sau lưng là bức ảnh của ba vị tổ sư khai sáng ra học thuyết Cộng Sản, tất cả đều có râu rậm rạp và vẻ mặt trang nghiêm. Một chiếc bục kê cao, bên trên đặt bức tượng bán thân bằng sáp của Hồ Chí Minh. Hai bên hội trường là hai câu khẩu hiệu được kẻ bằng chữ to lên tường: “Chủ nghĩa Mác – Lê nin vô địch muôn năm”“Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm”. Trong khi đó, loa phóng thanh liên tục phát các bài hát ca ngợi lãnh tụ và đảng Cộng sản với những lời lẽ hào sảng, công suất lớn đến nổi nghe đinh tai nhức óc. Chừng nấy thôi cũng đã đủ để khủng bố tinh thần bất kỳ kẻ nhát gan nào. Phía dưới là nhiều dãy bàn ghế dài được kê đối diện với bàn chủ toạ. Một chiếc bàn và ghế dài khác được kê xéo với các dãy còn lại, để tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy rõ bộ mặt của kẻ phản động, và theo dõi được sự chuyển biến thái độ kẻ chịu đòn thù của chế độ. Nhưng đó cũng mới chỉ là sân khấu và màn dạo đầu, vở kịch hay đang ở phía trước.

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2012

Những nổi niềm Xuất Khẩu

Còn nhớ hồi tôi làm việc tại một trung tâm đào tạo Lao động, nơi đây chủ yếu tập trung những người công nhân chuẩn bị đi lao động nước ngoài. Họ học thêm ngoại ngữ, tiếng của đất nước mà mình sẽ đến để làm việc. Một số khác học nghề để đợi đến ngày được đi xuất khẩu, mà họ thường gọi là “ngày bay”. Đó là cái đích cuối cùng nhưng là khởi điểm cho một hành trình lao động nặng nhọc và nhiều trắc ẩn nơi xứ người. Tuy gian khổ là vậy, nhưng đối với những người lao động xuất khẩu Việt Nam, thì đó là cái ngày tự do của cuộc đời họ, ngày thoát khỏi sự đói khổ và lừa dối nơi quê nhà. Họ chấp nhận bị bóc lột để được thoát khỏi sự bóc lột.
Trung tâm cách thủ đô Hà Nội chừng độ 30 km về phía tây, toạ lạc trên một khuôn viên rộng chừng 1 ha. Kinh phí xây dựng do Chính phủ Pháp tài trợ cho Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Cơ ngơi thì khang trang bề thế, nhưng trong đó lại chứa đựng những số phận và nổi niềm trắc ẩn của người lao động, những con người là nạn nhân của một hệ thống buôn người do nhà nước độc tài chủ trương.
Người lao động tập trung về đây chủ yếu từ các tỉnh lân cận Hà Nội như: Hải Dương, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hải Phòng, Nam Định...; còn có cả những người từ tận miền Nghệ - Tĩnh ra đây để đợi chờ và hy vọng. Họ từ độ tuổi thanh niên cho đến trung niên, gồm cả nam lẫn nữ. Nam thì làm các nghề thợ hàn, xây dựng, thợ sữa chữa máy móc...nữ thì chủ yếu làm công nhân may mặc, trông nhà, giữ trẻ, đầu bếp...; nói chung là đủ thứ nghề lặt vặt mà xứ người ta cần đến sức lao động rẻ mạt của người Việt Nam.
Vì họ chủ yếu đến đây để học nghề và ngoại ngữ nên chúng tôi gọi họ là Học viên.
Lúc cao điểm, trung tâm chứa đến trên cả ngàn người. Cứ ban ngày thì học một đến hai buổi, tối đến cánh thanh niên thường buồn tình mà tụ tập nhau uống rượu bia hoặc đánh bài. Tiền thì tiêu của gia đình hoặc vợ ở quê gửi lên. Tháng rộng ngày dài, đám con trai chẳng có việc gì làm ngoài ngày hai buổi học nhàm chán, trong khi “ngày bay” thì cứ bị hoãn vô hạn định. Vì vậy mà họ đâm ra chán nản, uống rượu say khướt rồi quậy phá. Cánh khác thì nhân đêm tối ra đường bắt trộm chó của dân về làm thịt uống rượu, vì vậy mà việc xảy ra xung đột với dân địa phương là chuyện cơm bữa. Đám cán bộ quản lý chúng tôi suốt ngày bận rộn để hoà giải với những xô xát kiểu này.
Vì không tham gia vào quá trình tuyển dụng lậu lao động, nên những gì chúng tôi biết được là do chính những người công nhân xuất khẩu kể cho nghe.
Có hôm, chúng tôi đang ngồi làm việc thì thấy một toán học viên sà vào, người nào cũng sặc sụa mùi rượu, dáng điệu thì khật khưởng đến tội nghiệp. Họ ghé vào là để trò chuyện cho vui, nhằm trút đi những bực bội và muộn phiền trong lòng. Vì sống gần gũi nên quý mến lẫn nhau, các học viên coi chúng tôi như những đồng minh để bảo vệ họ trong cuộc chiến chống lại sự lừa dối của những kẻ buôn bán lao động.
Mỗi người trong họ đều có một hoàn cảnh riêng, người thì đã có vợ con, kẻ thì chưa. Tất cả tập trung về đây với một hy vọng mong manh cho sự đổi đời trước mắt.
Một cậu thanh niên quê Hải Dương, giọng méo mó vì rượu, kể chuyện với một điệu bộ tưởng chừng không còn gì có thể hài hước hơn:
- Ở nhà em còn bố mẹ, ông nội thì đã ngoài 80 tuổi. Cách nay 2 năm, khi em lên Hà Nội để chuẩn bị đi nước ngoài theo hợp đồng với công ty tuyển dụng, ông nội cầm tay em khóc và nói “Bây giờ cháu đi nước ngoài, liệu ông còn sống để được nhìn thấy ngày cháu trở về hay không?”. Cả nhà cảm động, ai nấy cùng khóc nức nở.
Cậu cố nhịn cười, làm điệu bộ khoát tay rồi nói tiếp:
- Nào ngờ từ đó đến nay, họ lấy cớ học ngoại ngữ rồi chuyển em hết trung tâm này đến trung tâm khác. Lần nào về nhà lấy tiền, thấy ông nội vẫn khoẻ mạnh và móm mém cười, mà mình thì vẫn chưa đi được nước ngoài. Tính đến nay em bị chuyển khoảng gần 8 trung tâm rồi.
Những người có mặt đều cười nghiêng ngã, lắm người cười đến ho sặc sụa. Một người khác tiếp lời:
- Còn em thì đã hơn một năm nay ăn lương vợ. Vợ ở quê làm ruộng, hằng tháng gửi tiền cho mình ở trên này. Một mình ở đây ăn tiêu bằng cả gia đình ở quê, sốt ruột lắm các bác ạ. Vậy mà hỏi họ về ngày bay thì họ cứ ậm ừ cho qua chuyện. Hỏi dồn thì họ lại gắt “Cái anh này lắm chuyện, chúng tôi cũng muốn cho các anh bay nhanh chứ, nhưng chưa ký được hợp đồng với bên công ty ở nước ngoài”. Các anh thấy đấy, em thì dốt nát nào có biết gì, họ nói sao biết vậy. Nếu mình làm quá họ lại thôi hợp đồng, cho về quê thì tiền mất tật mang, đành bấm bụng mà theo nốt vậy. Chỉ thương cho vợ con nheo nhóc ở quê nhà.
Tôi gật đầu tỏ vẻ thông cảm, hỏi lại anh:
- Vậy khi gọi anh đi thì họ hứa thế nào?
Anh nhăn mặt, trả lời:
- Thì họ hứa chỉ dăm bữa nửa tháng là làm xong thủ tục, mình sẽ được xuất ngoại. Nhưng họ cứ lần lữa, rồi chuyển mình hết trung tâm này đến trung tâm khác cho đến tận bây giờ.
Chúng tôi ai cũng lắc đầu ái ngại, nhưng đều cảm thông cho họ, vì thực ra họ cũng không có sự lựa chọn nào khác. Họ bị quá nhiều sức ép từ nhiều phía, và rồi không thoát khỏi cái guồng máy buôn người của nhà nước này. Họ cũng như chúng tôi, tất cả đều là nạn nhân của thời cuộc.
Mấy cậu vừa cười vừa trỏ vào một anh trong bọn đã trạc ngoại 40, rồi nói:
- Anh này có thâm niên học tập lâu nhất, đến nay là 4 năm. Đây là trung tâm thứ 12 anh có mặt. Vì “sống lâu lên lão làng”, nên họ cho anh làm lớp trưởng để quản lý những học viên mới đến sau.
Nhìn bộ dạng thiểu não của anh, không có ai nhịn được cười. Ôi, thật xót xa cho những kiếp người xuất khẩu lao động trên quê hương Việt Nam. Họ và gia đình đang là nạn nhân của một chế độ bán nước buôn dân. Họ vẫn phải ở đây để chịu đựng sự lừa dối và bóc lột, trong nổi niềm khắc khoải chờ mong của người thân nơi quê nhà.
o0o
Một đêm, chúng tôi đang ngủ thì bị đánh thức bởi những tiếng ồn như vỡ chợ. Anh bạn cùng phòng nghe điện thoại rồi quay sang báo với tôi:
- Các học viên bức xúc vì bị lừa, đã nổi loạn phá phách lớp học và đuổi đánh đám cán bộ quản lý.
Mấy chúng tôi vội vàng mở cửa sổ nhìn xuống. Phía dưới sân của trung tâm, trong ánh đèn cao áp sáng trưng, ước độ 5 đến 6 trăm học viên đang tập trung la hét. Họ tụ tập thành từng nhóm với một vẻ phấn khích cao độ. Lắm người nhào vào đập phá cánh cửa nhà xưởng. Một tốp khác đang cầm gậy đuổi đánh mấy tay quản lý chạy lòng vòng như bắt cướp vậy. Theo mấy người chứng kiến kể lại, thì tay giám đốc trung tâm chạy trốn lên được một phòng ở tầng 3, bị một nhóm học viên đuổi theo bắt được. Họ tắt hết đèn điện rồi đánh cho hắn một trận nhừ tử. Vài tay quản lý khác nhanh chân thoát được, thần hồn nát thần tính, đang đêm lên xe chạy thẳng về Hà Nội mà không bao giờ dám ló mặt lên đây nữa.

       Đến gần sáng thì cánh học viên đã rút hết, ai về phòng nấy, để lại một bãi chiến trường la liệt những bàn ghế bị đập phá và vứt chỏng chơ.
Tức nước thì vỡ bờ, âu đó cũng là quy luật xưa nay. Những người Lao động bị lừa đi xuất khẩu, họ cũng đã hết kiên nhẫn trong sự đợi chờ vô vọng.  Và điều gì đến cũng phải đến, những kẻ chủ trương lừa đảo rồi cũng phải trả giá đắt cho những hành động vô  lương tâm của chúng.
                                                                                                              (Viết ngày 29.10.2012)

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012

Thư gửi em

 Hỡi em yêu dấu nhất đời                                                                           
Em là biển cả
Anh là ánh trăng...
Trăng vàng êm ả
Biển dịu dàng muôn tiếng hát ca
Trong dòng tình ái bao la
Đâu là bến đợi đâu là niềm mong?
Nhớ thương chan chứa cõi lòng
Mà thêm lưu luyến cả dòng thời gian
Vì ai xa cách muôn vàn
Vì đâu ai oán cung đàn hỡi em?
Ở đâu kỷ niệm êm đềm
Của ngày xa vắng mênh mang cuối trời
Như bao dòng nước chơi vơi
Tình ta là cả cuộc đời dần trôi...

Biển tình muôn nổi xót xa
Phải chăng là ánh trăng ngà trên cao?
Nửa đêm lấp lánh ngàn sao
Gió về gợi nhớ thêm vào tâm can
Hoa dạ hương nở sớm vội tàn
Để thêm thương nhớ chẳng an trong hồn

Rồi một sớm mai kia thức dậy                                  
Trong vườn xưa sẽ nở rực trời
Những bông hồng đỏ xinh tươi
Như bao sóng mắt của người ta yêu
Bình minh hay ánh trời chiều
Đều mang mong đợi một điều – nhớ thương
Giọt sầu cay đắng còn vương
Giọt sầu rơi rụng nẻo đường xa xôi
Thời gian kia vẫn dần trôi
Mang theo tất cả quãng đời của em
Đây hàng tơ liễu nhẹ êm
Tóc bay theo gió yếu mềm đáng yêu
Dáng em nho nhỏ yêu kiều
Để anh phải nhớ thương nhiều khôn nguôi

Vì xa cách để rồi yêu dấu
Biết tìm đâu bến đợi hỡi người?
Đây vầng trăng sáng muôn nơi
Đây ngàn biển cả xa vời lung linh
Lòng ta là cả biển tình
Gửi người yêu dấu tươi xinh cuối trời.

                                                                                                         Hà Nội 05/4/1996

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

An Cư chẳng có, Lạc Nghiệp cũng không

Cổ nhân có câu: “An Cư Lạc Nghiệp”. Thật vậy, dù người ta có làm gì, ở đâu thì trước tiên phải có nơi ăn chốn ở đàng hoàng, kế đó mới có thể ổn định và phát triển sự nghiệp. Đó là chân lý và lẽ thường xưa nay, cũng là một quan niệm về cuộc sống nhân sinh của chúng ta vậy.
Một dãy phòng trọ của Công Nhân
ở quận Bình Tân - TP.Hồ Chí Minh
Việt Nam ta, kể từ đảng Cộng Sản cai trị đã mấy mươi năm. Đây là đảng của giai cấp Công Nhân và nhân dân lao động, giai cấp được coi là tiên phong cách mạng. Theo đó mà suy, thì người lao động ở Việt Nam bây giờ thực sự giàu có và hạnh phúc, đặc biệt là người Công Nhân. Sự thực lại trái ngược với điều đó, khi mà người Công nhân phải sống thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần. Những điều kiện tối thiểu để đảm bảo cho cuộc sống của họ không hề được đáp ứng: Đó là nơi ở và việc làm. Họ phải bươn chãi để tự tìm kiếm công việc, tự lo chỗ ở cho mình với một mức lương hạn hẹp. Bởi vậy mà sự an cư, lạc nghiệp của người Công Nhân còn lắm nổi gian nan.
Hiện nay, đất nước đang trong tiến trình “Hiện đại hoá – Công Nghiệp hoá”. Ngoài mấy trung tâm công nghiệp lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn và Đà Nẵng thì hầu như địa phương nào cũng có ít nhất một vài khu công nghiệp cho riêng mình. Kéo theo đó là lực lượng lao động ở các địa phương đổ về các trung tâm này để làm việc. Ngoài các tệ nạn môi giới, lừa đảo việc làm hay bóc lột người lao động, thì ở đây chúng ta chỉ nói đến sự gian khổ và thiếu thốn nơi ăn chốn ở của người Công Nhân.
Mức lương thu nhập hiện nay của người Công Nhân là rất thấp, trung bình chỉ từ 2 – 3 triệu đồng/tháng, nhiều nơi chỉ ở mức 1,5 triệu đồng/tháng. Họ không được các công ty bố trí nhà ở, vì vậy mà phải tự tìm kiếm chỗ trọ cho mình. Với mức lương như vậy, mọi chi tiêu đều gộp trong đó, thì điều dễ hiểu là người công nhân khó mà tìm được cho mình một chỗ trọ tươm tất. Sự an cư vì vậy khó mà được như ý. Họ chỉ có thể tìm cho mình những chỗ trọ nhếch nhác và thiếu thốn đủ thứ tiện nghi. Mức thuê mỗi phòng trọ này có giá chỉ từ 500 – 700 ngàn đồng/tháng, chẳng những vậy họ còn phải rủ nhau 3 – 5 người ở chung một phòng. Vì như vậy sẽ tiết kiệm được tiền, dành phần lương còn lại cho các khoản chi tiêu khác. Thử đặt mình vào vị trí của người công nhân, các bạn sẽ thấy họ phải tài năng thế nào mới có thể làm được những phép tính tằn tiện cho sự chi tiêu của mình. Làm sao mà vẫn sống được với mức lương đó để còn sức cho chủ lao động tiếp tục bóc lột cái thân thể còm cõi của mình. Người Công Nhân (giai cấp tiên phong lãnh đạo cách mạng) phải tính toán chi tiêu từng đồng bạc lẻ, còn các quan chức (đầy tớ của nhân dân) lại giải trí bằng cách đánh mỗi ván cờ tướng trị giá 5 tỉ đồng?. Thế mà chưa thấy đình công phản đối, quả là sức chịu đựng của người Công Nhân xứ ta cũng thật dẻo dai và mãnh liệt dường bao.
Những ngôi nhà trọ vách bằng ván ép, mái tôn, nền xi măng ẩm thấp là nơi ưa thích của người Công nhân khi thuê trọ. Không phải vì họ thích gian khổ và thiếu thốn, mà họ buộc phải chấp nhận như vậy, họ không có sự lựa chọn nào khác. Trung bình mỗi người công nhân chỉ có khoảng 2 m2 để ăn, ở và ngủ nghỉ. Nơi vệ sinh công cộng lại rất bẩn thỉu và hôi hám, vô cùng ảnh hưởng tới sức khoẻ của chủ nhân thuê trọ. Mùa hè, những dãy nhà trọ dài lê thê này nóng hầm hập bởi mái tôn hấp thụ nhiệt rất tốt, người Công nhân như bị quay chín tại nơi ở của mình. Máy điều hoà thì chắc chắn là không rồi, vì vậy dù có bật cái quạt điện cũ chạy hết công suất cũng không thể cải thiện được nhiệt độ trong phòng. Chẳng những vậy, họ còn thường xuyên chịu cảnh thiếu điện nước, luôn lo sợ nạn mất cắp và thiếu trị an.
Chợ lao động: Những người thất nghiệp
đang chờ để bán sức lao động
Lực lượng lao động, và đặc biệt là lao động nhập cư hiện nay đang gia tăng ở Việt Nam. Nguyên nhân chính là sự phát triển của các khu công nghiệp. Điều này thu hút người lao động từ các địa phương đổ về tìm kiếm việc làm. Vấn đề nhà ở cho người Công Nhân là điều cấp thiết và không thể né tránh. Người lao động cần có chỗ ở tốt hơn cho mình trước khi họ được ổn định công việc. Nhà nước hay các công ty sử dụng lao động không thể mãi vô cảm và vô trách nhiệm đối với đời sống của người công nhân, lực lượng chính để “Hiện đại hoá, công nghiệp hoá” đất nước. Nghe đâu Chính phủ có chủ trương xây dựng nhà ở cho người lao động có thu nhập thấp. Chờ mãi chẳng thấy địa phương hay khu công nghiệp nào thực hiện điều này, chỉ thấy họ cướp đất của dân để bán, trong khi người công nhân thì mãi bơ vơ tìm nơi ăn chốn ở cho mình.
Với thực trạng trên, quả là an cư chẳng có, lạc nghiệp cũng không đối với người Công Nhân Việt Nam hiện nay.
Để ghi nhớ cảnh này, Minh Văn tôi có xúc cảm mà làm mấy câu thơ sau:
Búa Liềm đã mấy mươi năm
Mà dân lao động ăn nằm chẳng yên
Lang thang đi khắp ba miền
Áo cơm chẳng có nhân quyền cũng không

Kể từ thống nhất non sông
Muôn dân lưu lạc vào vòng bể dâu
Công Nhân giai cấp đi đầu
An cư lạc nghiệp ở đâu bây giờ?
Mong rằng từ nay về sau, người Công Nhân ở nước ta không còn phải chịu cảnh như vậy nữa.

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012

Búa Liềm mà cũng học đòi Văn Minh

Lẽ thường, danh phải đi đôi với thực, nội dung thì phải đáp ứng được hình thức. Trái với đó thì có nghĩa là trí trá và bịp bợm, điều mà tiền nhân vẫn gọi là “Hữu danh vô thực” vậy. Ví như một con người không có tài cán gì cả, nhưng lúc nào cũng khoe khoang với mọi người là mình giỏi giang xuất chúng. Hoặc có kẻ ngoài miệng thì lúc nào cũng nói mình làm việc thiện, nhưng bên trong lại làm toàn những chuyện tàn ác xấu xa. Quý vị hãy cùng nhau xem, đảng Cộng Sản ở nước ta có thuộc hạng đó hay không?
Việt Nam ta dưới thời Cộng Sản, người dân toàn được chứng kiến những sự giả dối và bịp bợm. Đến nổi dân ta đã nhiễm cái thói xấu đó tự lúc nào mà không hay, dẫn đến rối loạn hành vi ứng xử và suy thoái giống nòi. Nói về thực trạng đó, các nhà cách mạng Dân chủ thời nay tuyên bố: “Khắc phục nạn suy thoái kinh tế do chế độ Cộng Sản để lại không khó, mà khó nhất là thay đổi nhận thức và hành vi của người dân đã bị băng hoại”. Mà mấu chốt của căn bệnh rối loạn hành vi này là sự gian dối và chủ nghĩa hình thức.
Điều đó có nguyên nhân sâu xa từ cách thức hành xử của người Cộng Sản.
Chúng ta ai cũng hiểu rằng, người Cộng Sản lời nói không bao giờ đi đôi với việc làm. Họ chỉ cần hình thức để lừa bịp mà không bao giờ quan tâm tới nội dung. Có thể nói, họ là những chuyên gia lừa dối và bịp bợm, những kẻ khoác lác vô tiền khoáng hậu. Nguyên nhân khiến người Cộng Sản trở nên dối trá thì có nhiều, nhưng trước tiên là để biện minh cho sự tồn tại phi lý của họ. Chính vì vậy mà họ buộc phải nói dối, lâu dần sự giả dối lan rộng và tồn tại dưới đủ mọi lĩnh vực. Và để hợp thức hoá sự lừa dối, người Cộng Sản chỉ còn cách tuyên truyền bằng hình thức.
Ở các nước phát triển, sự văn minh và dân chủ dẫn đến một hệ quả tất yếu: Người dân được hưởng thụ đầy đủ về vật chất và tinh thần, từ đó họ có nhu cầu học tập suốt đời. Nhà nước bảo đảm và khuyến khích điều này. Người dân có quyền dành mọi thời gian cần thiết trong đời cho việc học, kể cả những người già. Họ có thể đến thư viện hay các lớp học miễn phí để tìm hiểu tri thức. Mới đây, ở Việt Nam chúng ta – một đất nước độc tài, kẻ thù của tự do thông tin – cũng tuyên bố xây dựng một mô hình xã hội học tập suốt đời. Là người yếu bóng vía, tôi suýt ngất xỉu khi nghe Ti-vi nhà nước đưa thông tin này. Rồi tôi tự vấn rằng: Nếu như Việt Nam là một xã hội học tập suốt đời thì người dân vốn đã nghèo thì nay lại càng kiệt quệ. Vì rằng  phải mất tiền cho nạn chạy bằng chạy cấp, họ sẽ không có tiền để theo học. Ở Việt Nam học cái gì cũng phải mất rất nhiều tiền. Ai đó mà chẳng may phải theo học một ngành nào đó, thì chỉ mong học cho xong để được thoát nạn. Cả gia tài đổ vào việc học, nếu như phải học thêm một vài năm thì đã không chịu nổi, huống chi học tập suốt đời? Và nữa, chế độ độc tài Cộng sản tồn tại được là nhờ ngu dân và lừa dối, nay nếu người dân vì học tập suốt đời mà trở nên hiểu biết thì làm sao họ còn lừa dối được nữa? Người dân học tập nhiều, thấy được các quyền lợi của mình mà đấu tranh, thấy được sự phi lý của học thuyết Cộng Sản thì chế độ này sụp đổ là cái chắc. Vì vậy mà ở đâu thì được, chứ Việt Nam thì nhất định không thể có một xã hội học tập suốt đời. Chừng nào chế độ Cộng Sản còn tồn tại thì tôi còn dám khẳng định chắc chắn như vậy.
Như vậy thì có khác gì Trưởng Giả học làm sang, phải không quý vị?
Các tổ chức xã hội được hình thành là do nhu cầu tự thân của người dân. Họ lập nên các tổ chức và tự điều hành hoạt động. Tổ chức tồn tại là để bảo vệ - phát triển các quyền và lợi ích của thành viên, để các thành viên sinh hoạt và giao lưu với nhau. Ngoài điều đó ra thì các tổ chức không có mục đích chính đáng nào khác. Nay nhà nước Việt Nam - một kẻ chuyên tôn thờ chủ nghĩa hình thức – lại cũng bắt chước điều này. Đảng Cộng Sản tự thành lập nên các tổ chức xã hội và tự mình lãnh đạo. Như vậy mới ngộ chứ, thành ra tự nhiên người dân bị cướp đi cái quyền chính đáng của mình. Sau khi tự mình thành lập các tổ chức, đảng Cộng Sản cho những kẻ lâu la của mình đóng giả người dân để sinh hoạt trong đó. Vậy là trước cộng đồng thế giới, Việt Nam nào có kém ai, cũng có các tổ chức xã hội đầy đủ cả. Như thế thì Việt Nam là một quốc gia tiến bộ - văn minh rồi còn gì? Ai còn nói gì được nữa nào? Ai dám lên án chế độ Cộng Sản đàn áp dân chủ, vi phạm nhân quyền nào? Nếu người nào lên tiếng phản đối điều đó, thì bị những kẻ nhân danh các tổ chức xã hội này bao vây và đấu tố tập thể ngay, có ba đầu sáu tay cũng khó mà chống đỡ. Thế là một căn bệnh hình thức nữa đã được thiết lập, mà nội dung thì không có gì cả. Để các tổ chức này hoạt động thì người dân phải đóng góp tiền bạc. Vậy là họ phải nuôi những cái tổ chức không hề đại diện cho mình, mà ngược lại còn để trói buộc bản thân, ở đâu có chuyện tương tự như thế nhỉ?
Biểu tượng của Đảng Cộng Sản là lá cờ búa liềm, có nghĩa là họ đại diện cho giai cấp Công Nhân và Nông dân. Ấy vậy mà từ khi cầm quyền, chưa thấy đảng Cộng Sản đại diện hay bảo vệ gì cho hai giai cấp này cả, mà ngược lại ngày càng thấy họ bị bóc lột nặng nề. Ngay cái biểu tượng này cũng đã mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức rồi. Mà cái biểu tượng này lại đi lãnh đạo xã hội, thì thử hỏi làm sao mà không mâu thuẫn cho được cơ chứ?
Khi mình không có khả năng làm một việc gì đó mà cũng bắt chước thì gọi là học đòi. Thấy đất nước người ta có các tổ chức Từ Thiện thì nhà nước Việt Nam cũng tổ chức làm từ thiện. Về hình thức thì giống nhau, thậm chí ở Việt Nam còn hoành tráng và đẹp đẽ hơn nhiều, nhưng bản chất thì hoàn toàn khác xa. Quý vị có biết vì sao không? Vì kiểu làm từ thiện ở Việt Nam người ta vẫn gọi là “Lấy xôi làng đãi ăn mày”. Nhà nước lấy tiền của người dân rồi lại bố thí cho dân. Không những vậy, nhân dịp này họ còn tham ô – tham nhũng, chứ tiền đến được tay người nghèo chỉ có vài đồng bạc cắc. Cũng thật thú vị cho cái chế độ Cộng Sản này.
Như vậy thì đâu còn là danh đi đôi với thực,  nội dung gắn liền với hình thức nữa. Thực là:
Búa Liềm mà cũng học đòi Văn Minh.

Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2012

Ai sáng hơn ai?

Đôi khi, do hạn chế về nhận thức và tầm nhìn mà con người đi sai đường lạc hướng. Cũng vì sai đường lạc hướng mà người ta tranh cãi, rồi mâu thuẫn và dẫn đến ẩu đả lẫn nhau. Sở dĩ như vậy là do họ ngu dốt, thiển cận trong việc nhìn nhận và đánh giá sự vật hiện tượng. Kết cục là dẫn đến sai lầm và bại vong. 
Thầy Bói xem Voi
 Xưa có năm ông thầy bói mù làm bạn nghề với nhau. Một hôm nhàn rỗi, năm thầy mới ngồi tán gẫu, ai cũng phàn nàn không biết hình thù con Voi nó ra làm sao. Tình cờ có người dắt Voi đi qua, mấy thầy liền chung nhau tiền rồi nhờ người Quản Tượng cho con Voi đứng lại để cùng xem. Thầy thì sờ vòi, thầy sờ ngà, thầy sờ tai, thầy sờ chân, thầy thì sờ đuôi. Đoạn năm thầy ngồi lại bàn tán với nhau.

Thầy sờ ngà bảo:
- Tưởng con Voi như thế nào, hoá ra nó cứng như cái đòn càn.
Thầy sờ vòi cãi:
- Không phải, nó dài như con đĩa chứ!
Đến lượt thầy sờ tai nói:
- Đâu có, nó to bè như cái quạt thôi!
Thầy sờ chân gân cổ cãi:
- Ai bảo vậy? Nó sừng sững như cái cột nhà!
Cuối cùng, thầy sờ đuôi phát biểu:
- Các thầy nói sai bét cả. Chính nó tua tủa như cái chổi sễ cùn!
Năm thầy, thầy nào cũng cho mình nói đúng. Không ai chịu ai, rồi các thầy cãi nhau mà thành ra xô xát, đánh nhau toạc đầu, chảy máu.
o0o
Búa Liềm đánh nhau
Từ năm 1945, ở Việt Nam ta có một cái Đảng gọi là Đảng Cộng Sản cướp được chính quyền. Đảng này tập hợp những thành phần khố rách áo ôm của xã hội lúc bấy giờ, mà phần lớn là người mù chữ. Nếu chỉ vậy thì cũng không sao, nếu như đảng này không cấm các đảng phái khác hoạt động để độc quyền quản lý đất nước. Họ lấy một thứ chủ nghĩa gọi là “Chủ nghĩa Cộng Sản” để làm kim chỉ nam cho mình. Người ngoài mà góp ý vào thì họ cho là phản động, nhẹ thì bị bỏ tù, nặng thì bị xử bắn ngay, vì vậy mà không ai dám nói gì cả. Phần còn lại là đảng Cộng Sản thực hiện với nhau mà thôi, họ xác định hướng đi cho dân tộc rồi tự giải quyết lấy mọi việc. Cái việc họ chọn nhầm đường thì đã rõ, chúng ta không nói ở đây nữa, vì làm gì có xã hội Cộng Sản nào mà đi lên. Chỉ xin được mời quý vị chứng kiến cuộc tranh cãi giữa các đồng chí Cộng Sản về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Sau khi giành được chính quyền, các đồng chí Trung ương Đảng Cộng Sản bèn ngồi họp lại với nhau. Đồng chí nào cũng quần Ka-ki, áo bốn túi chỉnh tề y hệt đồng chí Mao Trạch Đông răng đen bên Tàu. Cuộc họp nhằm xác định con đường xây dựng và đi lên chủ nghĩa Cộng Sản.
Đồng chí thứ nhất trán cao, có vẻ là chủ tịch nói:
- Thưa các đồng chí, xây dựng chủ nghĩa Cộng Sản là phải tịch thu hết ruộng đất của thành phần địa chủ bóc lột, xử bắn hết bọn phản động. Sau đó là xây dựng hợp tác xã, cứ đánh kẻng là đi làm, hết giờ làm lại đánh kẻng để nghỉ. Sản phẩm chia đều hết, không có ai được nhiều hơn ai.
Đồng chí thứ hai giơ tay xin phát biểu, rồi đứng dậy nói lớn:
- Thưa hội nghị trung ương. Theo ý tôi, xây dựng chủ nghĩa Cộng sản là phải quốc hữu hoá, xoá bỏ tư hữu, xác lập công hữu. Kẻ nào làm trái chủ trương, chống lại chính quyền nhân dân, tôi đề nghị xử bắn hết.
Đồng chí thứ ba là tướng võ (Vẫn mặc nguyên bộ áo giáp), đứng dậy cãi:
- Theo tôi là cứ phải đánh. Đánh địa chủ và cường hào bóc lột. Cứ “cường, hào, trí, phú” là chúng ta “đào tận gốc, trốc tận rễ”. Giờ chúng ta đã có nhiều súng đạn, cứ xử bắn tạnh ráo cho tôi.
Đồng chí thứ 4 ngồi lâu chưa được phát biểu, mặt đã nổi gân đỏ dừ, đứng phắt ngay dậy. Đồng chí này vừa chém mạnh tay vào không khí vừa nói như hét:
- Bọn Thực dân Pháp còn lăm le phá hoại cách mạng, phá hoại đường lối xã hội chủ nghĩa. Các đồng chí còn định ngồi đây cãi nhau đến bao giờ? Tôi đề nghị một mặt cử người sang đồng chí Liên Xô và đồng chí Trung Quốc để xin viện trợ lương thực cùng vũ khí, mặt khác phát động người dân trồng khoai sắn để chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Nếu kẻ địch mạnh, động một cái là chúng ta chạy lên rừng để còn ẩn nấp.
Đồng chí thứ năm đã hết kiên nhẫn, hét lên:
- Vừa đánh, vừa chạy, vừa dồn dân làm bia đỡ đạn. Rồi từ từ đi lên chủ nghĩa Cộng sản sau. Các đồng chí thấy thế nào?
Cả hội nghị ầm lên như ong vỡ tổ. Rồi vì không thống nhất được quan điểm nên các đồng chí xông vào ẩu đả lẫn nhau, kẻ sứt đầu, người mẻ trán.
Trước đó, trong dân gian người ta đã lưu truyền nhau câu sấm ký:
“Trắng đầu làm tội chưa qua
Đỏ đầu làm tội bằng ba trắng đầu”.
Xin được lưu ý: Trắng đầu ở đây là chỉ người Tây, thực dân Pháp. Còn Đỏ đầu là chỉ người Cộng Sản. Kết quả thì cả dân tộc đều đã được chứng kiến và chứng thực câu sấm trên là đúng. Cho đến bây giờ các đồng chí ấy vẫn còn tranh cãi và đánh nhau về con đường đi lên Chủ nghĩa Cộng Sản hoang tưởng, mọi tội vạ thì người dân gánh chịu cả.
 Vậy xin được hỏi quý vị một câu: “Các đồng chí Cộng Sản và mấy ông Thầy Bói mù, ai sáng hơn ai?”. Tôi mạn phép được đưa ra câu trả lời: - Mấy ông thầy bói mù còn sáng hơn, vì ít ra họ còn biết đích xác thế nào là cái vòi, cái chân, cái tai...của con Voi. Còn các đồng chí Đảng Cộng Sản thì không định hình được thế nào là xã hội Cộng sản cả. Vì thực ra mà nói, con Voi nó còn có thực, chứ còn Chủ nghĩa Cộng Sản thì không có thực bao giờ.

Thứ Hai, 8 tháng 10, 2012

Thiên Tài và Thiên Tai...

“Mất mùa thì tại thiên tai
Được mùa là bởi thiên tài đảng ta”.

Hai câu thơ trên mà người dân Việt Nam luôn rỉ tai nhau cho thấy mức độ trơ trẽn và lừa bịp của chế độ Cộng sản. Một chế độ phi nhân đã gây biết bao tội ác và mất mát cho dân tộc, nhưng lại tự nhận mình là thiên tài và vĩ đại. Đúng như cựu tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev từng nhận xét: “Đảng Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá”.
Thiên tài là danh từ để chỉ những bộ óc vĩ đại và xuất chúng, danh xưng này cũng để tôn vinh những tài năng có đóng góp to lớn cho nhân loại. Những kiến thức của họ mang lại lợi ích và nhân văn đối với cộng đồng. Có một điều đã trở thành chân lý: Đó là những người tài giỏi thì không bao giờ tự ca ngợi và tuyên truyền cho mình cả, thiên tài càng như vậy. Trường hợp của những thiên tài chân chính là thế. Nhưng cũng có trường hợp người ta trở thành thiên tài do sự dối lừa trơ trẽn, kiểu như câu thơ nói trên. Đó là khái niệm mới được hiểu ở mức độ khái quát mà thôi, còn trên thực tế thì dân tộc Việt Nam đã phải nhắm mắt làm ngơ mà chứng kiến vô vàn những cái gọi là “Thiên tài” của đảng Cộng Sản.
 Nó phi lý và nực cười đến nổi vấn đề đã trở nên trò hề lố bịch. Cái mặt nạ “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” giờ đây đã bị lật tẩy giữa ánh sáng ban ngày. Cái “thiên đường cộng sản” cũng trở thành địa ngục trần gian, ấy vậy mà đảng Cộng Sản vẫn tự nhận mình là thiên tài – vĩ đại. Tại sao lại có sự mâu thuẫn đó, tại sao một thực tế chướng tai gai mắt như vậy mà vẫn còn được hiện hữu? Tại vì chế độ độc tài toàn trị có cả một bộ máy tuyên truyền và đàn áp. Một mặt chúng bỏ tù tất cả những ai dám nói lên sự thật và phản đối sự lừa dối của chế độ. Mặt khác thì đảng Cộng sản luôn tuyên truyền nhồi sọ cho người dân về thiên tài rởm của họ, những kẻ đáng lẽ phải đưa lên đoạn đầu đài lịch sử từ lâu. Vì thế mà mấy chục triệu người dân Việt Nam đều trở thành người câm và chỉ biết cúi đầu tuân phục, vì rằng họ sợ hãi bạo quyền.
Cái thiên tài rởm đó của đảng Cộng Sản đã trở thành một thảm hoạ cho đất nước Việt Nam chúng ta. Cũng vì cái thiên tài đó mà đất nước bị tụt hậu hàng thế kỷ so với thế giới, nhận thức của con người thui chột do bị tẩy não và tuyên truyền lừa bịp. Nói tóm lại là đất nước thực sự quay lại thời kỳ đồ đá. Chỉ có trang phục và vật dụng đương thời là bắt kịp thời đại. Mọi phản kháng chính nghĩa và lẻ loi của người dân nhanh chóng bị bộ máy đàn áp “thiên tài” đó dập tắt. Người dân vốn ngu muội vì bị bưng bít thông tin, nay chỉ còn biết tự vấn mình rằng: Đảng Cộng sản là thiên tài hay thiên tai?...
Gió mưa, bão bùng, sóng thần, lũ lụt, động đất...gây bao mất mát và đau thương cho con người, những hiện tượng tự nhiên đó người ta gọi là thiên tai. Và trong nhận thức của mọi người, ý nghĩa của hai từ thiên tai có một giá trị mặc định: Những hiện tượng tự nhiên mang lại tai hoạ cho con người. Trong ngữ pháp Tiếng Việt, thì hai từ “Thiên Tài” và “Thiên Tai” chỉ khác nhau có một con dấu, ấy vậy mà ý nghĩa thật là khác nhau. Nó khác nhau đến độ một trời một vực, thưa quý vị. Vì rằng một đằng để chỉ con người, một đằng để chỉ hiện tượng tự nhiên. Thiên ở đây là “Trời”, cũng để chỉ tự nhiên vũ trụ. Tóm lại, một đằng là tốt đẹp và ích lợi, một đằng là xấu xa thảm hoạ. Ấy vậy mà khi đọc hay viết lên chúng ta lại thấy nó gần giống nhau. Kẻ lừa đảo chỉ đợi có vậy, chúng chỉ dựa vào những sự lẫn lộn gần giống nhau đó để mà bịp bợm mọi người. Từ đó mà chúng sẽ biến đen thành trắng, biến đúng thành sai và ngược lại.
Hơn 60 năm cầm quyền, đến năm 2012 này đảng Cộng Sản có chủ trương toàn dân xoá nhà xí không hợp vệ sinh. Quý vị lưu ý, lúc bấy giờ ở nước Nhật tất cả mọi sinh hoạt thường nhật dường như đã được tự động hoá. Vừa rồi tôi có được xem một thông tin, ấy là một người dân Nhật phát minh ra một loại máy để giấy vệ sinh, khiến cho giấy không bị giây bẩn do tay người tiếp xúc. Thế mới thấy sự khác nhau xa giữa đất nước Nhật Bản tư bản bóc lột và cái “thiên tài” của đảng Cộng sản Việt Nam ta. Ấy là chưa kể cái xứ bóc lột và lạc hậu đó hàng năm viện trợ cho xứ sở thiên tài nhiều tỉ Dollar để cho các quan chức tham nhũng.
Canh tác trên "Cánh đồng mẫu lớn"
tại Việt Nam
Còn nữa, cách nay mấy trăm năm thì con người đã biết canh tác trên những diện tích lớn. Cách làm này thể hiện sự chuyên nghiệp hoá, từ đó mà sản phẩm được sản xuất nhiều và hàng loạt, năng suất được tăng cao. Ở Việt Nam, nhờ có sự lãnh đạo thiên tài của đảng Cộng Sản mà một vài năm nay có chủ trương xây dựng nông thôn mới, mà ý tưởng vĩ đại nhất là xây dựng cánh đồng mẫu lớn (tức là dồn điền đổi thửa). Quả thực là thiên tài, thiên tài không thể chối đi đâu được nữa. Lại nữa, ở đất nước người ta thì canh tác bằng máy móc trên diện tích lớn, còn ở Việt Nam vẫn chủ yếu bằng con trâu và bàn tay cấy hái của con người. Thế mới thực là tài chứ!
Mới đây, đảng Cộng Sản lại kêu gọi các đảng viên phê bình và tự phê bình (gọi tắt là phê và tự phê). Kết quả là từ trung ương đến địa phương, tất cả các đảng viên đều thực hiện nghiêm túc và chân thành đợt phê và tự phê này (Lời của đảng Cộng Sản). Còn người dân thì sao? Họ uất ức mà thốt lên một câu vô cùng thâm thuý và cao siêu rằng: “Chỉ có mấy thằng nghiện ma tuý thì mới phê và tự phê”. Đến đây thì tôi lại cho rằng, chính người dân mới thực sự là thiên tài.
Tôi biết chắc chắn một điều rằng, vô số người dân Việt Nam đã chết, đã khóc, đã tuyệt vọng vì “thiên tài” của đảng Cộng Sản. Đất nước bị tụt hậu, bao giá trị văn hoá - tinh thần của người Việt bị đổ vỡ cũng chỉ vì cái kiểu “thiên tài” này.
Ôi, thiên tài hay là thiên tai đây?

Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2012

Vũ Khí Chiến Lược

Máy bắn đá thời Trung Cổ
Để giành thắng lợi nhanh chóng trên chiến trường, hoặc tạo nên bước ngoặt của cuộc chiến thì phải có vũ khí vượt trội. Vũ khí đó có thể khiến cho đối phương bị bất ngờ hoặc không có khả năng chống đỡ. Người ta có thể bảo vệ đất nước bằng sức mạnh quân sự, nhưng ưu điểm đó thường sử dụng trong chiến tranh xâm lược. Vì rằng với sức mạnh quân sự vượt trội, sẽ nhanh chóng giành thắng lợi trên mọi chiến trường, khiến cho đối phương không kịp trở tay. Trong lịch sử quân sự, người ta gọi đó là: Vũ khí Chiến Lược.
Lịch sử nhân loại tự cổ chí kim, nhiều cuộc chiến triền miên đã diễn ra để phân định cục diện, biên giới và bất đồng chính trị. Vì vậy, mà nghệ thuật quân sự và công nghệ vũ trang cũng không ngừng phát triển để đáp ứng nhu cầu của thời đại. Cho dù nghệ thuật quân sự (ở phương Đông gọi là Binh pháp) có hơn hẳn đối phương, nhưng vũ khí lạc hậu cũng khó tránh khỏi một thất bại, chứ chưa nói đến việc giành thắng lợi nhanh chóng. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của vũ khí trên chiến trường. Xưa và nay đều chứng tỏ như vậy, cần có vũ vũ khí chiến lược để giành thắng lợi và tạo cân bằng cục diện.
Thời Trung cổ, tuy nghệ thuật quân sự chưa phát triển, nhưng một số quốc gia tiến bộ về quân sự đã trở nên lớn mạnh do tiến hành chiến tranh mở rộng lãnh thổ. Do xâm chiếm được những vùng đất màu mỡ và trù phú, mà các quốc gia này đã trở nên những đế quốc hùng mạnh, chiếm đóng và cai trị các nước khác. Để giành được thắng lợi thì ngoài tinh thần chiến đấu, mưu lược chiến trận giỏi thì điều không thể phủ nhận là họ được trang bị vũ khí tối tân hơn đối phương. Vì chưa có súng đạn và bom mìn như ngày nay, thời đó để phá thành trì người ta sử dụng máy bắn đá. Những cỗ máy thô sơ đó là một thứ vũ khí ưu việt thời bấy giờ và gây nhiều kinh hoàng cho đối phương. Với cỗ máy này, người ta có thể tấn công từ xa, gây đỗ vỡ hệ thống phòng ngự và thương vong cho quân địch. Khi thành trì bị phá, trước sức tấn công như vũ bão của kẻ chinh phục, đối phương buộc phải đầu hàng hoặc tháo chạy.
Một thứ vũ khí nổi tiếng nữa của thời Trung Cổ, đó là: Nỏ Liên Châu. Đây là một loại máy bắn tên, có thể bắn ra một lúc nhiều mũi tên, gây sát thương lớn. Thứ vũ khí này cũng đã gây kinh hoàng trong nhiều cuộc chiến thời đó, và tạo nên thắng lợi nhanh chóng cho phe sở hữu nó. Tần Thuỷ Hoàng nhờ có sử dụng loại vũ khí này mà nhanh chóng thống nhất được Trung Quốc, lên ngôi Hoàng Đế. Thời Tam Quốc, Khổng Minh trước khi mất có truyền lại binh thư cho Khương Duy, trong đó có phép chế nỏ Liên Châu. Khi thứ vũ khí này được mang ra sử dụng, gây nên sự khiếp sợ cho quân địch. Ở Việt Nam ta, Thục An Dương Vương cũng từng sử dụng loại vũ khí này. Do nắm được bí quyết chế tạo nỏ liên châu, mà có thể giữ vững biên cương trong một thời gian dài trước khi bị quân Triệu Đà xâm lược.
Kỵ Binh Mông Cổ
Hẳn ai cũng từng biết đến đế quốc Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn. Vị Hoàng Đế vĩ đại này cai trị một đế chế rộng lớn từ Á sang Âu. Đó là một thành tích mà tự cổ chí kim, chưa ai làm được như vậy. Ngoài tài năng xuất chúng về quân sự của Thành Cát Tư Hãn, quân Mông Cổ lúc bấy giờ sử dụng một thứ vũ khí chiến lược khác: đó chính là Kỵ Binh. Quân mông cổ cưỡi ngựa bắn tên như đi trên đất bằng, thoắt ẩn thoắt hiện khiến cho đối phương luôn bị bất ngờ và không thể chống đỡ. Thời đó, kỵ binh là thứ vũ khí cơ động và thần tốc nhất, sử dụng giỏi lại càng có ưu thế vượt trội. Vì thế mà vó ngựa quân Mông Cổ đi đến đâu thì thành trì bị san phẳng, “cỏ không mọc được” đến đó.
Trong Đệ Nhị thế chiến, quân Đức Quốc Xã đã nhanh chóng chiếm được Ba Lan, Pháp, Áo...rồi tấn công Liên Xô. Giành được thắng lợi nhanh chóng như vậy là do quân Đức chiếm ưu thế về quân sự, đặc biệt là sự vượt trội về vũ khí. Không quân, hải quân, bộ binh của quân Đức đều được trang bị tốt hơn quân Đồng Minh. Mỗi binh chủng, người Đức đều có những loại vũ khí vượt trội, khiến cho đối phương bị bất ngờ và khó chống đỡ. Khi phe Đồng Minh cũng như Liên Xô lấy lại được sự cân bằng về vũ khí chiến lược, lúc này cục diện cuộc chiến mới dần được thay đổi. Phe Phát Xít yếu thế dần, và cuối cùng dẫn đến thất bại.
Các cường quốc thường giành được thắng lợi nhanh chóng trong các cuộc chiến là nhờ có sự vượt trội về vũ khí chiến lược. Điều đó làm nên sức mạnh quân sự, giúp duy trì sự ổn định chiến lược, bảo vệ an ninh quốc gia.
Chiến đấu cơ của Đức Quốc Xã
Từ sau thế chiến II, nước Mỹ đã vươn lên trở thành một cường quốc. Và vai trò siêu cường số một thế giới đó của Mỹ vẫn được duy trì cho đến tận bây giờ. Có thể nói, người Mỹ hiện sở hữu nhiều vũ khí chiến lược quan trọng nhất, chiếm hẳn ưu thế về tính hiện đại quân sự. Mỹ là nước đầu tiên sở hữu bom nguyên tử, tạo nên chiến thắng quyết định trong thế chiến II. Ngày nay, với việc sở hữu nhiều tàu chiến, tàu sân bay cũng như máy bay hiện đại, người Mỹ vẫn đi đầu trong cuộc chạy đua vũ trang. Ngoài sức mạnh về kinh tế - chính trị, việc sở hữu nhiều vũ khí chiến lược khiến cho nước Mỹ vẫn duy trì được vị trí siêu cường số một thế giới.
Lịch sử quân sự thế giới, thì vũ khí chiến lược luôn đóng vai trò quan trọng trong việc giành thắng lợi trên mọi chiến trường. Giúp cho quân sĩ bớt phải hy sinh xương máu, do không phải kéo dài cuộc chiến. Đó là tính ưu điểm của vũ khí chiến lược, nó giúp cho cục diện chiến tranh nhanh chóng được quyết định. Dù là chiến tranh vệ quốc hay chiến tranh thôn tính, thì người ta không thể phủ định vai trò quyết định của vũ khí. Tuy nhiên vũ khí chiến lược thường có tính sát thương lớn, gây nhiều thiệt hại cho đối phương.
Do đó, việc nên sử dụng vũ khí chiến lược hay không luôn là một câu hỏi khó trả lời. Theo ngu ý của người viết thì nên đặt câu hỏi là con người có nên tiến hành chiến tranh hay không thay vì có nên sử dụng vũ khí chiến lược hay không? Và nữa, nếu buộc phải tiến hành chiến tranh thì đó là loại chiến tranh nào, chính nghĩa hay phi nghĩa?

Thứ Hai, 10 tháng 9, 2012

Thời của những Nghịch Lý

Tôi đã đi từ muôn ngàn dặm
Và còn nhiều hơn thế nữa kia
Nhưng cũng chưa từng được thấy
Chuyện xây nhà từ nóc bao giờ...
Nhà nước của dân, do dân, vì dân...
Từ xưa cho tới nay, dù để xây một ngôi nhà bình dị hay toà lâu đài lộng lẫy thì người ta đều phải đặt nền móng trước, từ đó mới dựng nên công trình. Chứ không có ai lại đi xây nhà từ nóc cả, điều đó chỉ có trong trí tưởng tượng của con người mà thôi. Thế nhưng điều tưởng chừng như nghịch lý đó lại đang thực sự diễn ra tại Việt Nam. Để xây dựng một xã hội Cộng Sản hoang tưởng mà người ta toàn làm những điều ngược đời, giống như chuyện xây nhà từ nóc vậy.
Và bao giờ cũng vậy, nghịch lý thì đi kèm với bất công. Ở Việt Nam, những bất công đó thì đất nước và nhân dân phải gánh chịu, trong khi đảng Cộng Sản cầm quyền ngày càng vinh quang và vĩ đại. Kể cũng lạ, đó cũng là một điều nghịch lý nữa, nghịch lý của nghịch lý.
Có lẽ chúng ta cũng cần phải nhắc lại những điều nghịch lý mà đảng Cộng Sản đã thực hiện trong buổi đầu nắm chính quyền: Cải cách ruộng đất, xây dựng hợp tác xã bình quân, đốt sách, ...; vì rằng những sai lầm kinh thiên động địa đó thì cả thế giới đều biết cả, nó khiến cho nền tảng đất nước lung lay và hàng chục vạn người bị chết oan.
Nhận thấy nếu không thay đổi thì chế độ độc tài sẽ sụp đổ, đảng Cộng Sản buộc phải thực hiện chính sách đổi mới đất nước kể từ năm 1986. Tuy chấp nhận một số nguyên tắc tiến bộ về kinh tế tư nhân và thị trường, nhưng vì vẫn ngoan cố duy trì thể chế độc tài Cộng sản mà họ lại sa vào con đường tự mâu thuẫn. Chính vì thế mà những nghịch lý lại không ngừng được sinh ra, tưởng chừng như chưa bao giờ nhiều đến thế. Họ thực hiện chính sách đổi mới nhưng thực chất là quá trình cởi trói nền kinh tế. Quá trình phát triển đó không tuân theo quy luật thị trường tự do, mà theo định hướng “Xã hội chủ nghĩa”?. Từ đó mà hiện hữu một thực tế: Việt Nam vẫn tồn tại chế độ Độc Tài Cộng sản, nhưng lại mang những yếu tố của một xã hội tư bản hoang dã.
Điều đó đã dẫn tới một hệ quả tai hại: Xã hội Việt Nam tồn tại dựa trên những nguyên tắc của giá trị đồng tiền. Mọi mục tiêu đều được biện minh bằng tiền bạc, đó là điều duy nhất mà con người Việt Nam hướng tới, những giá trị khác bị xoá bỏ và quên lãng. Và cái giá trị xã hội đó được guồng quay của một bộ máy nhà nước độc tài toàn trị đảm bảo và duy trì. Họ duy trì những nghịch lý để kéo dài sự tồn tại của một thể chế chính trị ngược đời đang sắp đến hồi diệt vong.
Thực tế lịch sử, thì đảng Cộng Sản Việt Nam là một chi nhánh của Đệ tam quốc tế Cộng sản. Chi bộ Việt Nam chịu sự chỉ đạo của ban chấp hành đảng Cộng Sản Liên Xô. Vì thứ chủ nghĩa ngoại lai đó mà đảng Cộng sản không bao giờ chấp nhận tư tưởng Dân tộc chủ nghĩa. Để thực hiện lý tưởng của mình, người cộng sản đã từ bỏ dân tộc, xoá bỏ cội nguồn để áp đặt niềm tin mù quáng đó lên đất nước mình. Trên thực tế, lý tưởng Cộng sản là kẻ thù của chủ nghĩa dân tộc và các tôn giáo. Ngày nay, nền tảng lý luận bị lung lay, thực tiễn đã chứng minh chủ nghĩa Cộng sản là sai lầm. Để cứu vớt chế độ, đảng Cộng Sản lại bám víu vào chủ nghĩa dân tộc, coi đó là một giá trị thiết yếu cho sự tồn tại của chế độ. Nhưng chúng ta đều hiểu rằng đó chỉ là hình thức, là cách thức lừa bịp mới của người Cộng sản mà thôi, trước khi bị chết đuối thì họ bám víu vào bất kỳ vật gì có thể.
Sau khi nắm chính quyền ở miền Bắc, rồi thống nhất đất nước, đảng Cộng sản đã thực hiện các chính sách ngu ngốc và man rợ. Đó là: Cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ, tiêu diệt văn nghệ sĩ, cải tạo công thương nghiệp, đổi tiền, đàn áp và tiêu diệt các đảng đối lập, đốt sách...; những chính sách này chỉ phục vụ cho lợi ích của đảng Cộng sản, mà đi ngược lại với tinh thần dân tộc.

Xây nhà từ nóc...
Trước đây, khi đấu tranh để giành chính quyền, người Cộng sản cũng từng đòi hỏi tự do dân chủ, bình đẳng, công lý...; nhưng nay chính họ lại là kẻ thù của những giá trị đó, trở thành tay sai cho chủ nghĩa ngoại bang. Để rồi cuồng tín đến độ thực hiện những hành động tàn ác chống nhân loại, đày đoạ và giam hãm các giá trị tự do của dân tộc mình. Tinh thần quốc tế vô sản, nền chuyên chính vô sản, hận thù giai cấp đã biến những con người một thời yêu nước trở thành kẻ thù của lợi ích dân tộc, của tự do, dân chủ. Điều đó là không thể hiểu nổi, và nó chỉ tồn tại trong một thời đại nghịch lý mà thôi. 
Nếu ai hỏi tôi “Điều gì nghịch lý nhất trên cõi đời?”, thì tôi sẽ trả lời rằng: “Chủ nghĩa Cộng Sản!”. Nó hệt như câu chuyện xây nhà từ nóc mà loài người vẫn thường ví von để diễu cợt vậy.