Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2012

Vũ Khí Chiến Lược

Máy bắn đá thời Trung Cổ
Để giành thắng lợi nhanh chóng trên chiến trường, hoặc tạo nên bước ngoặt của cuộc chiến thì phải có vũ khí vượt trội. Vũ khí đó có thể khiến cho đối phương bị bất ngờ hoặc không có khả năng chống đỡ. Người ta có thể bảo vệ đất nước bằng sức mạnh quân sự, nhưng ưu điểm đó thường sử dụng trong chiến tranh xâm lược. Vì rằng với sức mạnh quân sự vượt trội, sẽ nhanh chóng giành thắng lợi trên mọi chiến trường, khiến cho đối phương không kịp trở tay. Trong lịch sử quân sự, người ta gọi đó là: Vũ khí Chiến Lược.
Lịch sử nhân loại tự cổ chí kim, nhiều cuộc chiến triền miên đã diễn ra để phân định cục diện, biên giới và bất đồng chính trị. Vì vậy, mà nghệ thuật quân sự và công nghệ vũ trang cũng không ngừng phát triển để đáp ứng nhu cầu của thời đại. Cho dù nghệ thuật quân sự (ở phương Đông gọi là Binh pháp) có hơn hẳn đối phương, nhưng vũ khí lạc hậu cũng khó tránh khỏi một thất bại, chứ chưa nói đến việc giành thắng lợi nhanh chóng. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của vũ khí trên chiến trường. Xưa và nay đều chứng tỏ như vậy, cần có vũ vũ khí chiến lược để giành thắng lợi và tạo cân bằng cục diện.
Thời Trung cổ, tuy nghệ thuật quân sự chưa phát triển, nhưng một số quốc gia tiến bộ về quân sự đã trở nên lớn mạnh do tiến hành chiến tranh mở rộng lãnh thổ. Do xâm chiếm được những vùng đất màu mỡ và trù phú, mà các quốc gia này đã trở nên những đế quốc hùng mạnh, chiếm đóng và cai trị các nước khác. Để giành được thắng lợi thì ngoài tinh thần chiến đấu, mưu lược chiến trận giỏi thì điều không thể phủ nhận là họ được trang bị vũ khí tối tân hơn đối phương. Vì chưa có súng đạn và bom mìn như ngày nay, thời đó để phá thành trì người ta sử dụng máy bắn đá. Những cỗ máy thô sơ đó là một thứ vũ khí ưu việt thời bấy giờ và gây nhiều kinh hoàng cho đối phương. Với cỗ máy này, người ta có thể tấn công từ xa, gây đỗ vỡ hệ thống phòng ngự và thương vong cho quân địch. Khi thành trì bị phá, trước sức tấn công như vũ bão của kẻ chinh phục, đối phương buộc phải đầu hàng hoặc tháo chạy.
Một thứ vũ khí nổi tiếng nữa của thời Trung Cổ, đó là: Nỏ Liên Châu. Đây là một loại máy bắn tên, có thể bắn ra một lúc nhiều mũi tên, gây sát thương lớn. Thứ vũ khí này cũng đã gây kinh hoàng trong nhiều cuộc chiến thời đó, và tạo nên thắng lợi nhanh chóng cho phe sở hữu nó. Tần Thuỷ Hoàng nhờ có sử dụng loại vũ khí này mà nhanh chóng thống nhất được Trung Quốc, lên ngôi Hoàng Đế. Thời Tam Quốc, Khổng Minh trước khi mất có truyền lại binh thư cho Khương Duy, trong đó có phép chế nỏ Liên Châu. Khi thứ vũ khí này được mang ra sử dụng, gây nên sự khiếp sợ cho quân địch. Ở Việt Nam ta, Thục An Dương Vương cũng từng sử dụng loại vũ khí này. Do nắm được bí quyết chế tạo nỏ liên châu, mà có thể giữ vững biên cương trong một thời gian dài trước khi bị quân Triệu Đà xâm lược.
Kỵ Binh Mông Cổ
Hẳn ai cũng từng biết đến đế quốc Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn. Vị Hoàng Đế vĩ đại này cai trị một đế chế rộng lớn từ Á sang Âu. Đó là một thành tích mà tự cổ chí kim, chưa ai làm được như vậy. Ngoài tài năng xuất chúng về quân sự của Thành Cát Tư Hãn, quân Mông Cổ lúc bấy giờ sử dụng một thứ vũ khí chiến lược khác: đó chính là Kỵ Binh. Quân mông cổ cưỡi ngựa bắn tên như đi trên đất bằng, thoắt ẩn thoắt hiện khiến cho đối phương luôn bị bất ngờ và không thể chống đỡ. Thời đó, kỵ binh là thứ vũ khí cơ động và thần tốc nhất, sử dụng giỏi lại càng có ưu thế vượt trội. Vì thế mà vó ngựa quân Mông Cổ đi đến đâu thì thành trì bị san phẳng, “cỏ không mọc được” đến đó.
Trong Đệ Nhị thế chiến, quân Đức Quốc Xã đã nhanh chóng chiếm được Ba Lan, Pháp, Áo...rồi tấn công Liên Xô. Giành được thắng lợi nhanh chóng như vậy là do quân Đức chiếm ưu thế về quân sự, đặc biệt là sự vượt trội về vũ khí. Không quân, hải quân, bộ binh của quân Đức đều được trang bị tốt hơn quân Đồng Minh. Mỗi binh chủng, người Đức đều có những loại vũ khí vượt trội, khiến cho đối phương bị bất ngờ và khó chống đỡ. Khi phe Đồng Minh cũng như Liên Xô lấy lại được sự cân bằng về vũ khí chiến lược, lúc này cục diện cuộc chiến mới dần được thay đổi. Phe Phát Xít yếu thế dần, và cuối cùng dẫn đến thất bại.
Các cường quốc thường giành được thắng lợi nhanh chóng trong các cuộc chiến là nhờ có sự vượt trội về vũ khí chiến lược. Điều đó làm nên sức mạnh quân sự, giúp duy trì sự ổn định chiến lược, bảo vệ an ninh quốc gia.
Chiến đấu cơ của Đức Quốc Xã
Từ sau thế chiến II, nước Mỹ đã vươn lên trở thành một cường quốc. Và vai trò siêu cường số một thế giới đó của Mỹ vẫn được duy trì cho đến tận bây giờ. Có thể nói, người Mỹ hiện sở hữu nhiều vũ khí chiến lược quan trọng nhất, chiếm hẳn ưu thế về tính hiện đại quân sự. Mỹ là nước đầu tiên sở hữu bom nguyên tử, tạo nên chiến thắng quyết định trong thế chiến II. Ngày nay, với việc sở hữu nhiều tàu chiến, tàu sân bay cũng như máy bay hiện đại, người Mỹ vẫn đi đầu trong cuộc chạy đua vũ trang. Ngoài sức mạnh về kinh tế - chính trị, việc sở hữu nhiều vũ khí chiến lược khiến cho nước Mỹ vẫn duy trì được vị trí siêu cường số một thế giới.
Lịch sử quân sự thế giới, thì vũ khí chiến lược luôn đóng vai trò quan trọng trong việc giành thắng lợi trên mọi chiến trường. Giúp cho quân sĩ bớt phải hy sinh xương máu, do không phải kéo dài cuộc chiến. Đó là tính ưu điểm của vũ khí chiến lược, nó giúp cho cục diện chiến tranh nhanh chóng được quyết định. Dù là chiến tranh vệ quốc hay chiến tranh thôn tính, thì người ta không thể phủ định vai trò quyết định của vũ khí. Tuy nhiên vũ khí chiến lược thường có tính sát thương lớn, gây nhiều thiệt hại cho đối phương.
Do đó, việc nên sử dụng vũ khí chiến lược hay không luôn là một câu hỏi khó trả lời. Theo ngu ý của người viết thì nên đặt câu hỏi là con người có nên tiến hành chiến tranh hay không thay vì có nên sử dụng vũ khí chiến lược hay không? Và nữa, nếu buộc phải tiến hành chiến tranh thì đó là loại chiến tranh nào, chính nghĩa hay phi nghĩa?

Thứ Hai, 10 tháng 9, 2012

Thời của những Nghịch Lý

Tôi đã đi từ muôn ngàn dặm
Và còn nhiều hơn thế nữa kia
Nhưng cũng chưa từng được thấy
Chuyện xây nhà từ nóc bao giờ...
Nhà nước của dân, do dân, vì dân...
Từ xưa cho tới nay, dù để xây một ngôi nhà bình dị hay toà lâu đài lộng lẫy thì người ta đều phải đặt nền móng trước, từ đó mới dựng nên công trình. Chứ không có ai lại đi xây nhà từ nóc cả, điều đó chỉ có trong trí tưởng tượng của con người mà thôi. Thế nhưng điều tưởng chừng như nghịch lý đó lại đang thực sự diễn ra tại Việt Nam. Để xây dựng một xã hội Cộng Sản hoang tưởng mà người ta toàn làm những điều ngược đời, giống như chuyện xây nhà từ nóc vậy.
Và bao giờ cũng vậy, nghịch lý thì đi kèm với bất công. Ở Việt Nam, những bất công đó thì đất nước và nhân dân phải gánh chịu, trong khi đảng Cộng Sản cầm quyền ngày càng vinh quang và vĩ đại. Kể cũng lạ, đó cũng là một điều nghịch lý nữa, nghịch lý của nghịch lý.
Có lẽ chúng ta cũng cần phải nhắc lại những điều nghịch lý mà đảng Cộng Sản đã thực hiện trong buổi đầu nắm chính quyền: Cải cách ruộng đất, xây dựng hợp tác xã bình quân, đốt sách, ...; vì rằng những sai lầm kinh thiên động địa đó thì cả thế giới đều biết cả, nó khiến cho nền tảng đất nước lung lay và hàng chục vạn người bị chết oan.
Nhận thấy nếu không thay đổi thì chế độ độc tài sẽ sụp đổ, đảng Cộng Sản buộc phải thực hiện chính sách đổi mới đất nước kể từ năm 1986. Tuy chấp nhận một số nguyên tắc tiến bộ về kinh tế tư nhân và thị trường, nhưng vì vẫn ngoan cố duy trì thể chế độc tài Cộng sản mà họ lại sa vào con đường tự mâu thuẫn. Chính vì thế mà những nghịch lý lại không ngừng được sinh ra, tưởng chừng như chưa bao giờ nhiều đến thế. Họ thực hiện chính sách đổi mới nhưng thực chất là quá trình cởi trói nền kinh tế. Quá trình phát triển đó không tuân theo quy luật thị trường tự do, mà theo định hướng “Xã hội chủ nghĩa”?. Từ đó mà hiện hữu một thực tế: Việt Nam vẫn tồn tại chế độ Độc Tài Cộng sản, nhưng lại mang những yếu tố của một xã hội tư bản hoang dã.
Điều đó đã dẫn tới một hệ quả tai hại: Xã hội Việt Nam tồn tại dựa trên những nguyên tắc của giá trị đồng tiền. Mọi mục tiêu đều được biện minh bằng tiền bạc, đó là điều duy nhất mà con người Việt Nam hướng tới, những giá trị khác bị xoá bỏ và quên lãng. Và cái giá trị xã hội đó được guồng quay của một bộ máy nhà nước độc tài toàn trị đảm bảo và duy trì. Họ duy trì những nghịch lý để kéo dài sự tồn tại của một thể chế chính trị ngược đời đang sắp đến hồi diệt vong.
Thực tế lịch sử, thì đảng Cộng Sản Việt Nam là một chi nhánh của Đệ tam quốc tế Cộng sản. Chi bộ Việt Nam chịu sự chỉ đạo của ban chấp hành đảng Cộng Sản Liên Xô. Vì thứ chủ nghĩa ngoại lai đó mà đảng Cộng sản không bao giờ chấp nhận tư tưởng Dân tộc chủ nghĩa. Để thực hiện lý tưởng của mình, người cộng sản đã từ bỏ dân tộc, xoá bỏ cội nguồn để áp đặt niềm tin mù quáng đó lên đất nước mình. Trên thực tế, lý tưởng Cộng sản là kẻ thù của chủ nghĩa dân tộc và các tôn giáo. Ngày nay, nền tảng lý luận bị lung lay, thực tiễn đã chứng minh chủ nghĩa Cộng sản là sai lầm. Để cứu vớt chế độ, đảng Cộng Sản lại bám víu vào chủ nghĩa dân tộc, coi đó là một giá trị thiết yếu cho sự tồn tại của chế độ. Nhưng chúng ta đều hiểu rằng đó chỉ là hình thức, là cách thức lừa bịp mới của người Cộng sản mà thôi, trước khi bị chết đuối thì họ bám víu vào bất kỳ vật gì có thể.
Sau khi nắm chính quyền ở miền Bắc, rồi thống nhất đất nước, đảng Cộng sản đã thực hiện các chính sách ngu ngốc và man rợ. Đó là: Cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ, tiêu diệt văn nghệ sĩ, cải tạo công thương nghiệp, đổi tiền, đàn áp và tiêu diệt các đảng đối lập, đốt sách...; những chính sách này chỉ phục vụ cho lợi ích của đảng Cộng sản, mà đi ngược lại với tinh thần dân tộc.

Xây nhà từ nóc...
Trước đây, khi đấu tranh để giành chính quyền, người Cộng sản cũng từng đòi hỏi tự do dân chủ, bình đẳng, công lý...; nhưng nay chính họ lại là kẻ thù của những giá trị đó, trở thành tay sai cho chủ nghĩa ngoại bang. Để rồi cuồng tín đến độ thực hiện những hành động tàn ác chống nhân loại, đày đoạ và giam hãm các giá trị tự do của dân tộc mình. Tinh thần quốc tế vô sản, nền chuyên chính vô sản, hận thù giai cấp đã biến những con người một thời yêu nước trở thành kẻ thù của lợi ích dân tộc, của tự do, dân chủ. Điều đó là không thể hiểu nổi, và nó chỉ tồn tại trong một thời đại nghịch lý mà thôi. 
Nếu ai hỏi tôi “Điều gì nghịch lý nhất trên cõi đời?”, thì tôi sẽ trả lời rằng: “Chủ nghĩa Cộng Sản!”. Nó hệt như câu chuyện xây nhà từ nóc mà loài người vẫn thường ví von để diễu cợt vậy.

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

Chú Đà "Khẩu Hiệu"

Ở Việt Nam thì hẳn ai cũng từng nghe đến hai câu khẩu hiệu khủng bố của người Cộng sản: “Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh muôn năm”“Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”. Đã là khẩu hiệu thì là câu cửa miệng của một đối tượng nào đó, và cũng vì là khẩu hiệu nên có tính kích động và hiệu triệu cao. Chính vì đặc điểm đó mà nó đã gây nên những hiệu ứng trái ngược. Nó làm cho người Cộng sản khoái khẩu bao nhiêu thì cũng khiến cho những ai là nạn nhân của chế độ dị ứng bấy nhiêu.
 Có lẽ dị ứng nhất là những người Công Giáo kính chúa yêu nước. Vì đạo Thiên chúa là đối tượng bị đảng Cộng sản giám sát và đàn áp nhiều nhất trong tất cả các tôn giáo ở Việt Nam. Nguyên nhân thì thật dễ hiểu, cộng sản là những kẻ vô thần nên họ không bao giờ chấp nhận các tín ngưỡng. Một lý do nữa là người Công giáo kính Chúa, vì thế mà nhà nước sợ hình ảnh độc tôn của ông Hồ Chí Minh bị soán ngôi. Vì rằng kẻ độc tài tồn tại là dựa trên sự tuân phục và sợ hãi của dân chúng. Bởi vậy cho nên, một mặt thì đảng Cộng sản xây dựng hình tượng lãnh tụ cho ông Hồ cao hơn cả Đức Chúa trời toàn năng. Một mặt thì họ cai trị đất nước bằng bàn tay sắt. Có như vậy thì người mọi thành phần dân tộc cũng như người Công giáo mới tuân phục đảng được. Nhưng đối với những người kính chúa yêu nước thì họ không bao giờ bán rẻ đức tin, dù cho kẻ bạo quyền luôn doạ dẫm và ép buộc.

Chú Đà là con chiên ngoan đạo nên trong lòng chú luôn có Chúa, và chỉ biết có chúa mà thôi. Đối với lớp trẻ thì có thể nói chú là một pho sử sống về lịch sử Công giáo địa phương. Những câu chuyện của chú dẫn dắt chúng tôi trở về thời Pháp thuộc, hay nổi thống khổ của quê hương kể từ khi đảng Cộng sản cai trị đất nước.  
Cánh trẻ chúng tôi thường tập trung uống trà và tán gẫu những lúc rỗi. Mọi người (mà phần lớn là anh em người Công giáo) nói đủ thứ chuyện, nhưng có một chủ đề không ai hẹn mà gặp: Ấy là sự phi lý của chế độ Cộng Sản. Thường thì chúng tôi tán chuyện một cách rôm rả, một lúc sau thì chú Đà lại có mặt để góp chuyện. Tuy đã ngoài 60 nhưng chú là người vui tính và hóm hỉnh, hàm răng đã rụng đôi chiếc trông ngồ ngộ. Ấy nhưng khi nhắc đến nhà nước Cộng Sản thì nét mặt chú như đông cứng lại vì giận dữ và ánh mắt thì long lên sòng sọc.
 Chú Đà thường mặc chiếc quần cộc và đội chiếc nón lá rộng vành như một lão nông chính hiệu. Cứ thấy dáng chú lững thững đi vào là cánh trẻ lại ùa lên thích thú. Kẻ thì túm tay, người thì giật áo mời chú ngồi. Nhiều khi vì sự hiếu khách thái quá mà thành ra chú bị xô đẩy như là một minh tinh màn bạc vậy. Những lúc như thế, chú lại vênh mặt lên làm điệu bộ và nói với một giọng điệu vừa đùa cợt vừa doạ dẫm:
- Buông ra không thì tao hô: “Đảng Cộng Sản muôn năm!” bây giờ!...
Nói xong chú lại nhe hàm răng sún ra cười.
Mấy người có mặt nghe thấy vậy thì mặt ai cũng như chàm đổ, vội chắp tay vái chú:
- Chúng con lạy bố. Bố mà hô câu khẩu hiệu đó thì chúng tôi sẽ chết ngay bây giờ cho mà xem!
Chú Đà lại nhe răng cười đắc ý. Chú biết ở đây ai cũng ghét Cộng Sản, vì vậy mà thường dọa như vậy để trêu họ chơi. Và vòng quay vẫn vậy, cứ thấy chú xuất hiện là họ lại không dấu được sự phấn khích và lôi kéo, lúc ấy chú lại doạ hô khẩu hiệu như là một thứ vũ khí để khắc chế sự hâm mộ thái quá này. Lúc thì chú doạ hô “Đảng Cộng sản muôn năm!”, lần khác thì doạ “Hồ chủ tịch muôn năm!”. Mỗi lần như vậy, cánh trẻ lại vái lạy chú như tế sao, và chú lại mỉm cười một cách khoái trá. Cũng vì vậy mà mọi người đặt cho chú cái tên: Chú Đà Khẩu hiệu.
Những câu chuyện của chú Đà kể khiến mọi người xúc động, tuy là những chuyện xảy ra từ hồi chúng tôi còn bé hoặc chưa ra đời.
Ấy là chuyện phân biệt người Công Giáo do nhà nước Cộng sản chủ trương để chia rẽ Lương - Giáo. Thời ấy (khoảng trước và sau năm 1975) nhà nước luôn coi các nhà thờ là những trung tâm chống Cộng, họ kích động dân chúng nói xấu và tẩy chay người Công Giáo. Vì vậy mà người Công giáo rất khó làm ăn, con cái họ thì ít được học hành. Những người dân bình thường và giáo dân trước đây sống chan hoà với nhau, nay vì đảng Cộng Sản mà thành hai chiến tuyến hận thù. Nhiều khi sự mâu thuẫn được đẩy cao đến mức xẩy ra xung đột. Chính quyền địa phương đánh trống ngũ liên để tập trung dân quân và những phần tử kích động tấn công nhà thờ. Phía nhà thờ thì kéo chuông báo động, giáo dân liền cầm gậy gộc và bất kể thứ gì có thể để kéo đến bảo vệ nhà thờ và đức tin. Trước sự đoàn kết của giáo dân, những kẻ côn đồ chính quyền đành phải hậm hực rút lui. Tuy vậy nhưng cuộc sống vẫn trong vòng tăm tối vì sự kích động hận thù thường xuyên từ phía nhà nước. Rồi chú vuốt râu vẻ tự hào:
- Hồi đó chú còn trẻ, cũng cầm gậy trong số những người bảo vệ nhà thờ. Oai hùng lắm, như những chiến binh thực thụ. Mình bảo vệ đức tin của mình, nào có sợ gì!
Nhiều người công giáo yêu nước bị bắt, điều này nằm trong chính sách “Diệt tôn giáo” của nhà nước Cộng sản. Họ tìm mọi cách hạ thấp vai trò của tôn giáo để bắt mọi người tôn sùng ông Hồ Chí Minh và học thuyết Cộng sản hoang tưởng.
Chú Đà thường hồi tưởng về những năm tháng của thời xa xưa. Theo chú, thời Pháp thuộc tuy là kẻ xâm lược nước mình nhưng họ làm cái gì cũng tốt. Những công trình như đập nước thuỷ lợi hay đường sá giao thông đến bây giờ gần cả thế kỷ mà vẫn tốt. Trong khi nhà nước Cộng sản bây giờ nói là nhà nước của dân nhưng làm cái gì cũng dối trá. Các công trình nhà nước thi công thì bị tham nhũng và làm ẩu, vừa mới đưa vào sử dụng đã bị hư hỏng nặng. Người dân mà lên tiếng phản đối thì bị họ trù dập và đe doạ. Thực là không còn hiểu thế nào nữa? Những lúc ấy chú lại thở dài:
- Chú già rồi, không biết còn sống để được thấy cái chế độ tàn ác và phi lý này nó sụp đổ không nữa?
Mấy thanh niên liền nhao nhao:
- Ông cứ yên tâm đi, chỉ ít năm nữa là chúng nó sụp đổ thôi. Không lẽ cứ lừa dối và đàn áp người dân được mãi sao!?...
Chú lại nói:
- Hy vọng là vậy, mong cho đời các cháu có được tự do và hạnh phúc!
Rồi chú lại nheo nheo đôi mắt, cho những dòng hồi tưởng xa xăm hiện về: “Các cháu có biết không? Hồi xây dựng hợp tác xã, người ta bắt mọi người đi làm tập thể, sau đó chia cho mỗi người một ít sản phẩm. Cứ đánh kẻng là đi làm, hết giờ lại đánh kẻng để nghỉ. Người siêng năng hay kẻ lười biếng đều hưởng thành quả như nhau, vì vậy mà mọi người mất hết sự phấn đấu, ai cũng làm việc chỉ để đối phó. Thời gian dành hết cho hợp tác xã, mọi người không làm gì được để kiếm ăn, cả nhà đành sống nheo nhóc và đói khổ. Ai muốn làm thêm gì cũng không được, vì bị đội quản lý thị trường cho là buôn lậu. Họ tịch thu hết hàng hoá và bắt giam luôn cả người. Nhiều người làm bánh mang ra chợ bán, bị đội quản lý thị trường mang đổ cả xuống ruộng. Ai cũng âm thầm gạt nước mắt mà chịu đựng, vì nếu lên tiếng phản đối thì họ cho là chống Bác Hồ, chống chế độ. Bất cứ ai buôn bán thứ gì đều bị họ bắt và tịch thu, trong khi con cái ở nhà thì đang khóc khản cổ vì đói. Những kẻ gọi là Cán Bộ này vẫn ngang nhiên nhân danh Đảng và Bác Hồ để cướp đi cái ăn của dân, không biết chúng có còn là con người không nữa?”. Kể đến đây, nước mắt chú đã chảy dài tự lúc nào. Chúng tôi thì ngậm ngùi và thấy cay cay nơi khoé mắt. Ôi! cái thời đại mà người ta vẫn ra rả tuyên truyền là vẻ vang nhất trong lịch sử dân tộc là như thế này sao?. Thực là lừa bịp và giả dối mà!.
Là người vui tính nên chú Đà thường nhanh chóng quên đi những câu chuyện buồn mình đã kể. Lúc nào chú cũng là người hóm hỉnh để được cánh trẻ yêu quý và hâm mộ. Cũng vì thế mà chú hay đến để mà trò chuyện với chúng tôi, như một người trẻ thực thụ vậy. Đang bàn tán xôn xao, thoáng thấy chú Đà đi vào, chúng tôi reo lên:
- A! Chú Đà Khẩu hiệu đây rồi! Hôm nay có chuyện gì hay không chú?
Rồi kẻ lại tóm tay, người kéo áo. Chú vừa vùng ra vừa vênh mặt lên cười và doạ:
- Buông ra, không tao lại hô khẩu hiệu bây giờ!...