Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014

Cấu trúc Nhà Nước

     Sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ, và xác lập những mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước, giữa trung ương với địa phương - đó được gọi là “Hình thức cấu trúc nhà nước”. Nhà nước cần có sự liên kết chặt chẽ, nhằm quản lý và phát triển đất nước một cách hữu hiệu và tốt đẹp nhất. Mục tiêu này thúc đẩy sự cân nhắc, lựa chọn của các quốc gia, tùy thuộc vào yếu tố địa lý, chính trị khác nhau. Người ta phân chia cấu trúc nhà nước thành hai hình thức chính:   Nhà nước đơn nhất và Nhà nước liên bang.

     Về Nhà nước đơn nhất: Là nhà nước có chủ quyền chung, có hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương. Các đơn vị hành chính được phân chia thành tỉnh (thành phố), huyện (quận), xã (phường).

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

Pháp Luật và Thể Chế

     
     Pháp Luật phản ánh ý chí của nhà nước, là những quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc đối với mọi người. Như vậy, pháp luật là nhân tố điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Mức độ đúng đắn và công bằng của hệ thống pháp luật tùy thuộc vào thể chế chính trị áp dụng. Vì rằng Pháp Luật và Nhà Nước là hai thành tố thượng tầng chính trị, có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nhà nước là tổ chức quyền lực, nó chỉ có thể triển khai và có hiệu lực trên cơ sở pháp luật. Người ta có thể thấy được bản chất của một nhà nước thông qua hệ thống pháp luật đại diện.

     Những nhu cầu khách quan xã hội là xuất phát điểm của các quy phạm pháp luật. Trình độ pháp luật không thể thấp hay cao hơn trình độ phát triển của kinh tế - xã hội. Cho nên có thể nói rằng: Xã hội nào thì pháp luật đó.

Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014

Thời Đại Lăng Loàn

     
     Làng Lợn Lòi vốn là doi đất nằm tách biệt phía ngoài cánh đồng, với dăm chục nóc nhà lớn nhỏ. Lối vào duy nhất là con đường bê tông dài độ gần cây số, nối liền với trục giao thông chính của xã. Người dân ở đây chủ yếu làm nghề nông, nhà cửa hầu như đều lụp xụp tồi tàn. Nơi địa thế cao nhất là giữa làng, tại đây nổi lên ngôi nhà ba tầng khang trang kiên cố của ông Chưởng – vốn là trưởng công an xã. Từ ngoài đường lớn nhìn vào, ngôi nhà nom như một pháo đài lãnh chúa thời trung cổ. Về địa danh của làng thì đã có nhiều người thắc mắc, không hiểu tại sao ngày xưa các cụ lại đặt cho cái tên xấu xí như vậy? Chẳng ai biết xuất xứ tên làng, chỉ thấy trước đây thế nào thì bây giờ cứ thế gọi theo. Phía sau vẻ thầm lặng của Làng Lợn Lòi, những đợt sóng ngầm của văn hóa thời đại vẫn nóng hổi tràn qua. Bởi vì con người là sản phẩm của xã hội, nên mới có câu: “Thời thế tạo anh hùng”, hoặc “Loạn thế xuất anh hùng” vậy. Đại diện cho thời cuộc, bao giờ cũng nổi lên những nhân vật tiên phong ưu tú, mà người ta vẫn thường gọi là Đại nhân vật. Nếu đếm trên đầu ngón tay, Làng Lợn Lòi cũng có khoảng Ngũ đại nhân vật như thế.

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

Hiểu về "Nhà nước Pháp Quyền"

     
     Trong lịch sử, pháp luật luôn gắn liền với nhà nước. Triều đại nào, chế độ nào cũng có pháp luật đại diện, nhưng khái niệm “Nhà nước pháp quyền” thì chỉ xuất hiện từ khi có xã hội dân chủ. Bản chất của nó là không có ai ở trên pháp luật, mọi cá nhân và tổ chức đều phải tuân theo pháp luật. Nhà nước chỉ được thực thi quyền hành dựa trên pháp luật mà thôi. Theo đó thì nhà nước phải phục tùng pháp luật, cụ thể là các cơ quan công quyền và bộ phận công chức. Trước khi có khái niệm này, pháp luật chỉ có thể được thượng tôn ở mức độ nào, tùy thuộc vào thăng trầm của lịch sử. Tóm lại, nhà nước pháp quyền là sản phẩm của một xã hội dân chủ.

     “Nhà nước pháp quyền” là mô hình nhà nước phổ biến và tiến bộ nhất hiện nay. Nó được các chính phủ và người dân lựa chọn vì sự đảm bảo các giá trị dân chủ phổ quát. Ở đó chỉ có pháp luật là quyền lực duy nhất được thừa nhận, không có quyền lực chính trị mà chỉ có quyền lực pháp luật. Con người tự do trong việc lựa chọn các hình thái chính trị, mà không có sự áp đặt từ phía một đảng phái hay nhóm người nào đó. Chúng ta cũng hiểu rằng, tại những quốc gia có nền chính trị đồng nhất (một đảng duy nhất cầm quyền, một hệ quan điểm duy nhất…) thì không thể có “Nhà nước pháp quyền”, mà nó được lãnh đạo bởi quyền lực chính trị. Tại đây quyền lực bị đánh cắp và thao túng bởi một lực lượng chính trị cầm quyền.

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

Những cánh chim Thiên Đường

   
     Các thổ dân bộ lạc ở Australia xưa vẫn tôn thờ chim Thiên Đường như vẻ đẹp đến từ trời cao. Do có bộ lông sặc sỡ và những điệu vũ đẹp mắt, mà loài chim cao quý này được thổ dân coi như là những sứ giả mang thông điệp tốt lành của thượng đế. Hình tượng chim Thiên Đường đi vào văn hóa của họ, mà hình ảnh chúng ta biết đến nhiều nhất là những chiếc lông chim cắm trên mũ làm vật trang trí. Ngày nay, con người vẫn coi chim Thiên Đường là biểu tượng của niềm vui và hạnh phúc.

     Đối với dân tộc Việt Nam ta mà nói, có lẽ lúc này không có tin vui nào bằng sự hiện hữu của tự do dân chủ, bởi đó là khát vọng của họ trong suốt hơn nửa thế kỷ nay. Vì chắc chắn rằng, chẳng có hạnh phúc nào lớn hơn khi con người được sống trong trong một xã hội tự do và yên bình. Khổ tận cam lai, giờ đây chúng ta cũng đang được nhìn thấy sứ giả báo tin vui xuất hiện - những cánh chim thiên đường.

     Phê rô Trần Hữu Đức, một thanh niên công giáo bị Tòa án tỉnh Nghệ An kết án tù cách đây ba năm với tội danh “Tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCN Việt Nam” cùng với ba người khác. Như vậy là trước vụ xử “14 thanh niên Công giáo” nổi tiếng mà người ta được biết đến một năm sau đó. Trên thực tế, Trần Hữu Đức chỉ làm những công việc theo lời Chúa dạy, ấy là thương kẻ khốn cùng, chia sẽ những nổi đau và bất hạnh của thế gian. Anh cứu những thai nhi bị bỏ rơi, giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh. Có thể nói, Trần Hữu Đức là một trong những cánh chim đầu đàn loan báo thông điệp về tự do và công lý hòa bình trên quê hương. Ngày 02/11/2014 này, Trần Hữu Đức mãn hạn từ nhà tù Thái Nguyên, gia đình và bạn bè anh được người ta thông báo như vậy. Chúng tôi, những người yêu mến tự do dân chủ đã quyết định đến đón anh, chỉ với mong muốn được nhìn tận mặt, nắm tận tay người thanh niên yêu nước này cho thỏa lòng ngưỡng mộ.

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

Nhận Họ

   
      Xưa nay dòng họ Mạnh Thường vùng Yên Châu vẫn bị thiên hạ cho là lạc loài mất gốc. Điều này khiến những người trong dòng họ cay đắng và phẫn uất lắm. Trưởng tộc Mạnh Thường Đức - vẫn quen gọi là Mạnh Đức - trăn trở nhiều hơn cả, vì ông chính là người đại diện. Mỗi lần họp làng, mấy thủ chỉ trong vùng thường chê họ Mạnh là con hoang, cầu bất cầu bơ, ăn nhờ ở đậu. Trong khi những dòng họ khác như Phạm, Lê, Hoàng, Nguyễn… thì gốc gác hẳn hoi và có công lao khai phá vùng đất này. Những lúc như vậy, trưởng tộc Mạnh Đức như  xát muối trong lòng, chỉ muốn đất dưới chân tự dưng nứt toác ra để mà độn thổ đi cho rồi. Nhưng rồi ông cố nhịn nhục, vì ngẫm ra thì người ta nói cũng phải. Họ hàng mình đông đúc như ngày hôm nay, cũng phải có tổ tiên nguồn cội chứ, vì rằng:

Cây có gốc mới nẩy cành xanh ngọn
Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.

     Rồi ông quyết bạch hóa vấn đề gốc gác để mà thuyết phục thiên hạ, đồng thời hóa giải tiếng oan cho dòng họ mình.

Thứ Năm, 16 tháng 10, 2014

Hiệp Sĩ thời đại


      Tiếng chim chuyền cành hót líu lo, khiến cho khu vườn yên ắng như bừng tỉnh. Mùi cỏ dại ngai ngái xông lên trong hơi sương ẩm ướt. Dưới gốc cây bưởi trổ hoa chúm chím, đàn gà con đang lích rích bới tìm thức ăn và chơi đùa.

     Lúc này chú Thanh ngồi bên cửa sổ, ngắm nhìn những đóa mẫu đơn mới nở ngoài vườn với vẻ thích thú. Chủ nhân tay nâng chén rượu, lim dim đôi mắt mà khẽ ngâm bài thơ “Uống rượu ngắm hoa Mẫu đơn” của Lý Bạch:

                       “Hôm nay uống rượu ngắm hoa
                       Cạn đôi ba chén gọi là mua vui
                      Chỉ e hoa nói nên lời
                      Em không phải nở cho người già nua”.

     Ngâm xong, chú nhấp thêm ngụm rượu, rồi vỗ đùi đánh bạch một cái mà nức nở khen rằng:

     - Giỏi thay cho Lý Bạch! Thật xứng là tiên thơ lắm ru!…

     Âm thanh phát ra từ cú vỗ đùi của chủ nhân khiến cho lũ gà con giật mình mà chạy toán loạn một lúc. Chúng ngơ ngác nhìn nhau, rồi lại tiếp tục đào bới gốc cây như cũ, vì đối với chúng thì tiên thơ Lý Bạch là ai cũng chẳng quan hệ gì cả. Nắng đã bắt đầu nhẹ nhàng lan tỏa trên mặt đất, thật là một buổi sáng yên bình.

Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014

Tự do Tôn Giáo xưa và nay

     
     Tôn giáo vốn là niềm tin của con người vào các giá trị siêu nhiên, cũng như những đạo lý, lễ nghi liên quan đến niềm tin đó. Về phương diện lý luận, chúng ta coi tôi giáo như một hệ thống quan điểm tư tưởng triết học. Lịch sử tôn giáo luôn thăng trầm bởi các chế độ chính trị. Nhưng xưa nay, tôn giáo không chỉ xuất thế, mà còn nhập thế để cứu đời vậy. Theo dòng thời gian, chúng ta sẽ thấy được điều đó.

     Cuối đời Đông Hán bên Trung Quốc, triều đình đã trở nên thối nát và suy vong. Dân tình đói khổ, chư hầu nổi lên khắp nơi, mở đầu là cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng làm rung chuyển đất nước. Các lãnh tụ Khăn Vàng cũng đồng thời là tín đồ của Đạo Lão (Một Tôn giáo lớn).  Cuộc khởi nghĩa bị dập tắt, các chư hầu khác cũng lần lượt bị Tào Tháo đánh bại, cuối cùng dẫn đến cục diện Tam Quốc kéo dài 60 năm (220 – 280). Ba nước đó là: Ngụy (Do Tào Tháo mượn danh Thiên Tử để sai khiến chư hầu), Thục (Do Lưu Bị đứng đầu), Ngô (Do Tôn Quyền làm chủ).  Nước Ngô (Đông Ngô) vốn trước đây do Tôn Kiên khai phá đất đai và dựng nghiệp. Kế đó con trai của ông là Tôn Sách nối chí cha mà lập quốc an bang. Một lần Tôn Sách cùng các tướng đi trên đường, thấy một đạo sĩ ngồi trên kiệu đi đến đâu thì được dân chúng quỳ lạy tới đó. Đạo sĩ này vốn hay chữa bệnh cứu người, nên được người dân tôn sùng như thánh. Tôn Sách thấy mình là chủ Đông Ngô mà lại không được dân chúng coi trọng như vậy, liền nổi giận mà giết chết đạo sĩ. Lúc đó Tôn Sách đang bị thương, sau khi giết đạo sĩ rồi vết thương tự dưng tái phát mà mê man bất tỉnh. Tôn Sách biết mình không qua khỏi, trước khi chết truyền ngôi lại cho em trai là Tôn Quyền lúc đó còn nhỏ.

Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2014

Lối cũ vàng Thu

Con đường có lá thu rơi                                                          
Mong manh còn lại khoảng trời không em
Cảnh như tranh vẽ bên thềm
Vàng tươi khoe sắc êm đềm trong sương

Hàng cây vẫn đứng bên đường
Tả tơi lá rụng như dường năm xưa
Em tôi nhí nhảnh vui đùa
Tay thon nhặt lá gom mùa thu sang

Hanh heo trời đất xốn xang
Hiu hiu gió thổi lá vàng tung bay
Anh yêu này hỡi có hay
Tình ta như lá một ngày tàn phai?

Lặng nhìn mái tóc em dài
Dịu dàng anh đọc một vài câu thơ
Tình yêu dẫu mãi đợi chờ
Thời gian kia có bao giờ ngừng trôi?

Thu xưa dạo bước bên người
Mà nay hình bóng một đời cách xa
Hỡi em có biết chăng là?
Còn đây lối cũ đôi ta tự tình.

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

Lang thang du ký

     
     Như cơn gió vẩn vơ, chợt đến rồi chợt đi, mới cảm nhận được cái thú vị mà nhiều khi tưởng chừng khuất chìm trong cuộc sống. Vì rằng, những ý nghĩ rành rọt và khuôn sáo thường khó mà trở thành văn chương thi phú, cứ phải để cho tư tưởng thả lỏng thì ta mới nhìn thấy vẻ đẹp do thiên nhiên và cuộc sống ban tặng. Những không gian mới lạ, những phong cảnh hữu tình đột nhiên xuất hiện trước mắt khiến ta ngỡ ngàng. Tâm trạng ngạc nhiên xen lẫn chút tò mò làm cho tâm trí người ta như trẻ lại, hồn nhiên cùng cảnh vật.

     Lang thang trên những nẻo đường, góc phố mà ngắm nhìn cuộc sống, nó giống như một nhiếp ảnh gia hay nhà ngôn ngữ học đi tìm cảm hứng cho mình vậy. Họ hòa nhập để cảm nhận, vòng vo nắm bắt bằng những hình ảnh hay ngôn từ văn chương tâm đắc. Bởi vậy mà cái cách yêu cuộc sống của họ cũng khác với người thường, không cãi cọ bon chen, mà ngắm nhìn từ xa để suy tư cảm nhận. Lang thang không chủ đích, nhưng cái hồn của cuộc sống lại được nắm bắt và thấu hiểu hơn bao giờ hết vậy.

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

Tự mâu thuẫn

     
     Những cuộc cách mạng tự phát, những ý thức hệ nửa vời luôn mang lại bi kịch cho xã hội. Vì ngoài những đổ vỡ và mất mát mà nó gây ra, thì việc đi lại vết xe đổ của quá khứ là điều không tránh khỏi. Do họ chưa ý thức được những giá trị tranh đấu, cũng như chế độ nhà nước sẽ xây dựng trong tương lai. Thành ra chính những kẻ nhân danh cách mạng lại trở thành phản cách mạng. Những lý tưởng tranh đấu lúc này đã trở nên vô nghĩa, và chính họ lại trở thành kẻ phản bội nhân dân mình. Thay vì tiến bộ và hạnh phúc, họ lại tạo nên một chế độ còn phản động hơn xưa.

     Dĩ nhiên là một chế độ như vậy sẽ bị nhân dân oán hận, vì sự hy sinh của họ đã trở nên vô ích. Không có gì bi kịch hơn, khi chính những kẻ đấu tranh lật đổ ách thống trị lại trở thành kẻ thống trị hà khắc không kém.

     Có câu chuyện kể rằng:

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

Khẩu chiến Quan Chức

     
     Trong quá khứ, có những cuộc đối thoại hay khẩu chiến đã đi vào lịch sử. Ví như đối đáp giữa đức thánh Khổng Tử và học trò của mình là Tử Cống, sự tranh luận của các triết gia cổ đại Hy Lạp, và gần đây là cuộc bút chiến văn học giữa hai trường phái “Nghệ thuật vị nghệ thuật” và “Nghệ thuật vị nhân sinh” ở nước ta trong các năm 1935 -1939 chẳng hạn. Sở dĩ các cuộc tranh luận đó đi vào lịch sử vì để lại cho người đời những bài học sâu sắc. Ngoài ra, cái cách mà người ta thể hiện câu từ độc đáo cũng là lý do quan trọng khiến cho nó trở nên bất hủ. Ngày nay, vào thời điểm này, chúng ta cũng tự hào vì có một cuộc khẩu chiến sẽ đi vào lịch sử bởi sự thú vị có một không hai này.

     Tại một cơ quan nhà nước nọ, có hai vị quan chức tuổi sàn sàn nhau. Một vị có bằng tiến sĩ, vị kia thì chỉ học bổ túc văn hóa cấp 3. Có phải vì xuất thân khác nhau như vậy mà họ luôn hục hặc và khắc khẩu hay không, nhưng quả thực một người như đến từ sao hỏa, còn người kia từ sao kim vậy. Vị tiến sĩ người tầm thước, trắng trẻo hồng hào, trán thì cao đến đỉnh đầu, trông rõ là trí thức, hiện là “trưởng phòng tổ chức”. Ngài văn hóa bổ túc thì đang giữ chức “trưởng phòng nội vụ”. Không giống với ông tổ chức, ngài nội vụ có dáng thấp đậm và đen đúa, trán có u có sần, tai lại nhỏ và nhọn như tai chuột. Mới nhìn qua đã biết là xuất thân bần tiện. Vì vậy mà khi hai kỳ phùng địch thủ đứng cạnh nhau, càng làm nổi bật hơn sự bất công của tạo hóa.

Thứ Tư, 17 tháng 9, 2014

Sự lựa chọn Chính Thể

     
     Đối với một quốc gia mà nói, việc lựa chọn chính thể cũng giống như tìm cho mình một con đường đi vậy. Con đường đó đúng hay sai, bằng phẳng hay gập ghềnh, hạnh phúc hay khổ đau, đều tùy thuộc vào quyết định tối quan trọng này. Chính vì như vậy, cho nên cần có sự tham gia ý kiến và quyết định của toàn dân. Trọng trách đó phải được người dân ủy nhiệm thông qua những cơ quan có đủ năng lực. Phải được cân nhắc và lựa chọn bởi một chính phủ đa thành phần, gồm có sự tham gia rộng rãi của tất cả các đảng phái, tổ chức và cá nhân. Vì rằng, nếu quyết định này rơi vào tay một cá nhân độc đoán hay đảng phái duy nhất thì sẽ dẫn đến sự thiên vị. Theo đó mà lợi ích tối cao của nhân dân cũng ngang nhiên bị tước đoạt.

     Sức mạnh của một đất nước tùy thuộc vào phương pháp và cách thức mà người ta tổ chức quyền lực nhà nước. Cho nên cần phải có một hình thức chính thể đúng đắn, một cấu trúc nhà nước hợp lý, và chế độ chính trị tốt đẹp. Nếu 3 yếu tố này kết hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn, thì tiềm lực và sức mạnh của dân tộc sẽ được phát huy hiệu quả nhất, nhằm xây dựng một đất nước hạnh phúc và phồn vinh.

Thứ Ba, 9 tháng 9, 2014

Tượng Di Lặc

     
     Anh Phát vốn trước đây là lái xe cho giám đốc, bây giờ chuyển lên cơ sở mới này làm việc cùng với chúng tôi. Công việc thường ngày của anh là lái chiếc xe tải chở hàng của công ty. Bởi vì anh hoạt ngôn, lại hay kể chuyện tếu nên mọi người thường tập trung nghe anh nói chuyện mỗi khi rỗi rãi. Dáng dấp anh to béo như quan phụ mẫu xưa, da dẻ hồng hào, cái bụng núng nính chảy xệ những mỡ, miệng thì đỏ chót tựa thoa son. Tính anh Phát điệu đà lắm, lúc nào người ta cũng thấy anh mang gương lược bên mình. Mỗi khi ra đường hay đi đâu, là y như rằng anh chải tóc lượn sóng kiểu như tài tử điện ảnh. Nhìn anh, người tín ngưỡng ngỡ là Phật Di Lặc, ai mê tín thì hình dung ra bà đồng cốt, người thực tế hơn lại thấy giống một giám đốc thành đạt trên thương trường. Anh em cơ quan chúng tôi thì đặt hẳn cho anh cái tên: Tượng Di Lặc. Vì cái dáng vẻ đường bệ vô song của anh mỗi khi an tọa.

     Cái hay của anh Phát là luôn khuấy động không khí, làm cho mọi người vui vẻ. Bên cạnh đó, sự dở cũng không hề nhỏ, ấy là anh khen đó nhưng rồi lại chê ngay được. Cho nên người ta thường sợ mà không dám tin tưởng về sự tín nghĩa ở nơi anh. Mỗi khi anh khen ai thì bay bổng tận mây xanh, nhưng đã chê thì chỉ muốn độn thổ tức thì để khỏi phải xấu hổ. Đám con gái vô tình mà có mặt lúc anh nói chuyện thì đỏ mặt mà bỏ đi ngay, vì những lời nhận xét của anh về họ nhiều khi tục tĩu và nặng nề lắm. Hình như anh có ác cảm với con gái, vì hiện giờ đang sống ly thân với vợ.

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

Mơ thấy em

Đêm qua anh mơ thấy em                                                     
Bóng hình yêu dấu thân quen thủa nào
Thật đây nào phải chiêm bao
Lời thương âu yếm gửi trao tâm tình.

Nụ cười mắt biếc môi xinh
Đã từng là của riêng mình anh thôi
Dịu dàng hai đứa sánh đôi
Cùng nhau kể chuyện quãng đời thương đau

Em nào hờn trách anh đâu
Bởi chăng duyên phận bể dâu đời người
Cách chia hình bóng đôi nơi
Để sầu ly biệt cho người phương xa

Bóng em chìm khuất nhạt nhòa
Lệ buồn lê bước xe hoa cùng người
Mình anh phiêu dạt muôn nơi
Mang theo hình bóng một thời vấn vương.

Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014

Thế nào là một Chính Phủ vì dân?

   
      Mục đích và mong muốn của người dân luôn là xây dựng một chính phủ đại diện đích thực, bảo vệ và đáp ứng tốt nhất quyền lợi của mình. Đó cũng chính là quá trình hình thành và phát triển các hệ thống nhà nước, nhằm thiết lập một bộ máy hành chính hiệu quả trong việc phục vụ nhân dân. Các chính phủ tồn tại vốn dĩ phải vì dân, phải thực thi quyền con người và phát triển đất nước. Mọi chính phủ đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, chỉ vì quyền lợi đảng phái ích kỷ và phe nhóm đều bị coi là bất hợp pháp. Chỉ có một chính phủ vì dân là duy nhất được phép tồn tại.

      Vậy thì thế nào là một chính phủ vì dân?

Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

Lỗi tại Lương thấp

   
      Đối với công nhân hay viên chức mà nói, thì đồng lương đủ để nói lên tất cả mọi vấn đề. Rằng công việc của họ có tốt hay không? Công ty quan tâm đối xử với người làm như thế nào? Mức sống của bản thân và gia đình ra sao? Chừng ấy thứ đều được giải quyết và xoay quanh chuyện đồng lương cả. Vì rằng cả ngày họ gắn bó với công ty, tối về lại lo việc cá nhân và gia đình, thời gian đâu mà làm thêm làm nếm nữa. Chẳng lẽ một ngày làm việc 24 tiếng sao? Như vậy thì đến thánh thần cũng không trụ được, huống chi là con người. Luật lao động quy định ngày làm 8 tiếng rõ ràng, các nước phát triển thì còn ít hơn thế nữa.

Thứ Tư, 20 tháng 8, 2014

Chuyện nghe kể

   
      Rít một hơi thuốc lào thật dài, rồi theo làn khói mà hồi tưởng về quá khứ, bác Mai bắt đầu kể:

     - Các cháu biết không? Hồi cải cách ruộng đất ấy nhé, tay chủ tịch xã chưa xóa mù chữ mà trông oai vệ lắm. Người dân không ai dám nhìn thẳng vào mặt nó cả, cứ phải lấm lét nhìn xuống đất. Mỗi lời nói, cử chỉ của “ông chủ tịch” đều thể hiện vẻ quyền uy tuyệt đối. Ánh mắt của hắn ta sáng như chớp điện, nhìn vào đâu thì có thể bốc cháy tới đó. Ai mà chẳng may làm điều gì mếch lòng “ông chủ tịch” xã thì coi như chết chắc? Cho nên, lúc đó hắn ta như là hiện thân của thánh thần vậy..

     Bác Mai cười ngặt ngẽo, cười nhưng nước mắt lại trào ra. Lấy tay lau mắt, miệng vẩu lên vì vẻ nghiêm trọng, rồi bác nhìn tôi, trợn mắt:

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014

Sự cần thiết của "Tổng tuyển cử tự do"

     Các nền dân chủ đều hoạt động dựa trên những nguyên tắc nền tảng, nhằm đảm bảo cho quyền làm chủ của nhân dân. Bầu cử tự do là một trong những nền tảng cơ bản ấy. Đó là quá trình mà người dân đưa ra quyết định để lựa chọn những cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc bộ máy nhà nước như: Lập pháp, hành pháp, tư pháp và chính quyền địa phương. Bầu cử là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành các cơ quan đại diện của quyền lực nhà nước.

      Để có một bộ máy nhà nước thực sự của dân, do dân vì dân thì điều kiện bắt buộc là phải có bầu cử tự do. Không có bầu cử tự do, cũng đồng nghĩa với việc xã hội đó không có dân chủ. Chúng ta đều thấy rằng, lâu nay ở Việt Nam không có bầu cử tự do, vì không có sự tham gia của các tổ chức, đảng phái đại diện. Những cuộc bầu cử này thiếu công khai minh bạch, không có sự giám sát độc lập trong suốt quá trình bỏ phiếu và kiểm phiếu. Thông qua bầu cử giả hiệu, một bộ máy nhà nước phi pháp được lập nên, nhân danh quyền lực nhân dân. Thực chất là nhân dân không hề có vai trò gì trong việc hình thành bộ máy nhà nước đó.

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2014

Luận về Tiến Hóa

Mọi sinh vật trên trái đất đều thích nghi với môi trường để tồn tại, âu đó cũng là bản năng sinh tồn tự nhiên. Môi trường quyết định những đặc điểm của sự phát triển, tốt hay xấu cũng từ đó mà ra vậy. Những loài sống dưới nước thì có vây để bơi, có mang để thở, sống trên trời thì có cánh để bay. Loài nào sống trên cạn thì hô hấp bằng phổi, có thể leo trèo chạy nhảy nhờ phát triển tứ chi. Ở xứ lạnh thì con Bò có lông dài và phủ khắp cơ thể để chống rét, xứ nóng lông lại ngắn và thưa. Lá cây ở sa mạc có hình kim để chống thoát nước, chịu được khô hạn. Con Lạc Đà cũng vậy, nó có thể dự trữ năng lượng, đôi chân dài và thon để có thể hành trình đường dài trên sa mạc khô nóng.

Được biết rằng, sự sống trên Trái Đất khởi nguồn và sau đó tiến hóa từ một tổ tiên chung khoảng 3,8 tỷ năm về trước. Charles Darwin và Alfred Wallace là những người đầu tiên hệ thống hóa những luận cứ khoa học cho lý thuyết tiến hóa theo con đường chọn lọc tự nhiên. Quá trình này tạo ra và bảo tồn những đặc điểm được cho là phù hợp hơn cho chức năng mà chúng đảm nhiệm. Cho đến nay, chọn lọc tự nhiên là nguyên nhân duy nhất cho sự thích nghi, tuy nhiên không phải là nguyên nhân duy nhất để tiến hóa.

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014

Giai cấp Vô Sản và lời hứa suông của Đảng

   Các bản Hiến Pháp Việt Nam từ năm 1946 đến nay đều đề cập đến vai trò chính yếu của đảng Cộng Sản là đại diện cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Khởi thủy của họ là làm cách mạng vô sản, có nghĩa là giải phóng giai cấp và đấu tranh cho quyền lợi của người nghèo. Một đảng phái thì bao giờ cũng đại diện cho một tầng lớp nhất định, và phải trung thành với cương lĩnh đó. Vậy thì Đảng Cộng Sản đại diện cho giai cấp vô sản. Có lẽ điều này đã quá rõ ràng, không cần phải bàn cãi thêm nữa. Nhưng  họ có thực sự đấu tranh và bảo vệ cho giai cấp vô sản hay không lại là một chuyện khác.  

Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

Mưa

Mưa giăng trên mái hiên nhà
Lá xanh lấp ló trái na đầu mùa
Rì rào cho bưởi đung đưa
Tầng mây lơ lững giữa trưa nắng hè

Mịt mùng phong kín đường quê
Lòng buồn gợi nhớ cơn mê năm nào
Một thời lãng bước quỳnh giao
Màn mưa che khuất lối vào ngày xanh
                                       (Minh Văn)

Thứ Tư, 23 tháng 7, 2014

Một Lễ rửa tội

Ông Hồng vốn là “Trưởng ban tuyên giáo tỉnh ủy”. Công việc thường ngày của ông là đi nói chuyện với người ta, thêu dệt về huyền thoại đảng Cộng Sản, bài bác tôn giáo và khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác. Ông gắn cho những người yêu nước cái nhãn “phản động” và “thế lực thù địch”, rồi từ đó kích động hận thù trong cán bộ và nhân dân. Ông nói nhiều đến nỗi, hai khóe miệng rộng ra đến mang tai. Cũng vì nói nhiều, mà về già cái miệng trễ xuống tận cằm như cá ngạo, những lúc cười đắc ý thì không tài nào ngậm lại được nữa, cứ để cho nước dãi chảy ròng ròng tự nhiên. Thủa hàn vi, ông là một tay buôn Bò có hạng. Cái khiếu ăn nói lừa lọc người đời nay được áp dụng triệt để vào công việc mới: Nghề tuyên giáo. Buôn Bò và Tuyên Giáo hẳn có gắn bó mật thiết với nhau về bản chất, vì thế mà ông nhanh chóng phát huy được cái sở trường mê hoặc lòng người của mình.
Khi được người ta hỏi về sự giống nhau giữa việc xem tướng Bò và tuyên truyền chủ nghĩa Mác, ông Hồng hóm hỉnh trả lời: - “Khi nhìn vào cái xoáy con Bò là tôi hiểu ngay được tính nết của nó, con nào thì dễ bảo, con nào gan lỳ. Từ đó mà biết cách trị cho nó phải nghe mới thôi. Con Bò nào mà không chịu đi, ta bịt mắt nó lại rồi dắt theo ý mình, việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác cũng vậy”. Thật là một kinh nghiệm vô tiền khoáng hậu. Nhưng dù sao đó cũng là kinh nghiệm, mặc dầu nó không tốt cho người khác lắm. Thử hình dung cái cảm giác mình bị bịt mắt cho người khác dắt đi như người mù, nó cứ rờn rợn thế nào ấy. Ai mà biết con đường đó nguy hiểm gập ghềnh như thế nào? Lỡ đi vào ngõ cụt rồi rơi xuống vực thẳm thì sao? Chưa kể là gai góc và đất đá ghập ghềnh phủ đầy lối đi.
Sự đời nhiều khi thật trớ trêu, con người lọc lừa xảo trá như vậy lại có một bà vợ dịu hiền tốt bụng. Có phải như người đời vẫn thường nói: “Quy luật bù trừ” đó chăng? Khác với chồng, bà Hiền vợ ông lại là người thật thà chất phác, luôn có niềm tin vào Chúa và luật nhân quả. Thấy ông cứ sống không thật với lòng mình như vậy, bà buồn lắm!.
 Nhiều lần bà nửa đùa nửa thật với chồng:
- Tôi hỏi thật nhé! Suốt ngày cứ đi lừa người ta như thế thì ông thấy sung sướng cái nổi gì nào? Đảng thì tham ô tham nhũng, hà hiếp dân lành, nào có tốt đẹp gì mà ông ca ngợi? Cái chủ nghĩa Mác - Lê gì đó thì sai bét nhè, nhân loại người ta đã vứt vào sọt rác rồi, thế mà ông cứ lôi ra mà đánh bóng ca ngợi là sao? Còn nữa, những người dân oan người ta tố cáo bất công và đòi quyền lợi, có đánh đập và giết người gì đâu mà ông gọi họ là phản động? Tôi khuyên ông cũng nên bỏ cái nghề đó đi. Lừa đảo và vu oan cho người ta là cái tội trời đánh đấy, khi chết thế nào cũng bị đày xuống địa ngục!
Ông ta cười hề hề mà rằng:
- Thì cái nghề nó phải vậy. Không lừa thì không có ăn. Bà tưởng tôi muốn làm cái con Vẹt đi hót lại lời người ta lắm à?
Bà bỉu môi:
- Trên đời này chỉ thấy cái đảng của ông là ngược đời như vậy! Rõ là mèo khen mèo dài đuôi…
Thế rồi ông cũng đã nghỉ hưu vài năm nay. Tuy vậy, bằng cái tài nói dối và lừa lọc mà ông cũng đã tậu được cho mình một cơ ngơi khang trang, cuộc sống có phần dư dật.
 Cái tin ông Hồng bị bệnh ung thư giai đoạn cuối khiến cho nhiều người bất ngờ. Người ta thấy ông gầy rạc hẳn đi, chỉ còn hai con mắt là vẫn đảo điên linh hoạt như xưa. Cái dáng dấp đắc ý thủa còn đương quyền nay biến đâu mất, bây giờ chỉ còn là bộ xương bọc da, đang chờ ngày về chầu Diêm Vương. Mấy hôm nay ông nằm mê man bất tỉnh, ngay cả người nhà cũng không còn nhận ra nữa. Biết mệnh chồng sắp hết, bà Hiền mới làm một công việc chưa từng có tiền lệ, ấy là bí mật sai người nhà đi mời Linh Mục đến làm lễ rửa tội. Bà quan niệm rằng, nghiệp chướng của ông quá nặng, chỉ có nhờ Linh Mục rửa tội thì mới được siêu thoát.
Ánh sáng đèn điện vàng vọt chiếu khắp căn phòng, lúc này người bệnh đang nằm thoi thóp trên chiếc giường được kê sát bên cửa sổ. Cạnh đó, đám người nhà đứng xúm xít, không khí buồn tẻ ảm đạm. Trên tường nhà, người ta thấy những chiến tích của chủ nhân vẫn còn hiện diện, với những huân chương và hình ảnh các buổi tuyên truyền hội nghị.
Thời gian chậm chạp trôi, chợt có tiếng còi ô tô gọi, đứa ở vội đi ra mở cổng. Từ trên xe bước xuống là một Linh Mục đứng tuổi, dáng người mảnh khảnh, khuôn mặt toát lên vẻ đôn hậu nhân từ. Theo chân đứa ở, Linh Mục đi dọc những hòn non bộ, rồi lại men theo hành lang ngoằn ngoèo mà lên tận lầu 3, nơi người bệnh đang nằm.
Tại cửa phòng, bà Hiền đã đứng chờ sẵn. Tiếng xì xầm bàn tán bấy giờ lập tức im ắng hẳn. Linh Mục nhẹ nhàng bước đến bên giường ông Hồng - lúc này đang nằm bất tỉnh - tay làm dấu thánh và bắt đầu cầu nguyện.
Những lời cầu nguyện dường như có vẻ hiệu nghiệm, người ta thấy ông Hồng từ từ mở mắt nhìn Linh Mục. Rồi với một vẻ tức giận cao độ, ông ta cố lấy hết hơi tàn còn lại để nhổm dậy thều thào:
- Đạo pháp, dân tộc, chủ nghĩa xã hội…các thế lực thù địch!…
Mấy người nhà vội xúm lại đỡ cho ông ta nằm yên như cũ.
Linh Mục quay sang nói với mọi người:
- Ông nhà đã bị nhiễm quá nặng chứng bệnh thiên kiến. Nay nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Vì vậy khó mà cứu rỗi linh hồn được!...
Bà Hiền sụt sịt khóc:
- Khi ông ấy còn làm việc, tôi cũng đã khuyên nhủ nhiều nhưng không nghe. Lúc nào trong đầu cũng chỉ có hận thù giai cấp, tôn giáo, chủ nghĩa này nọ. Để giờ ra nông nổi này. Xin cha hãy cứu cho…
- Tôi sẽ cố hết sức. Nhưng tất cả tùy thuộc vào người bệnh. Nếu ông ấy không hóa giải được chứng hoang tưởng và hận thù thì đành chịu!…
Rồi Linh mục lại tiếp tục cầu nguyện. Lúc này trán ngài đã lấm tấm mồ hôi, như đang phải vật lộn chiến đấu cùng hằng hà sa số hung thần ác quỷ để giành lại linh hồn trong sáng cho người bệnh.
Chừng mười mấy phút nữa trôi qua. Mọi người kính cẩn chắp tay nghe cầu nguyện, những chứa chan hy vọng linh hồn người bệnh sẽ được siêu thoát. Chợt ai nấy đều giật nẩy mình, khi thấy ông Hồng đột nhiên nhổm dậy, chỉ tay vào Linh Mục mà hét lớn:
- Bắt!…bắt lấy nó!…bọn phản động đội lốt…tôn giáo!….
Nói rồi ông ta ngã vật xuống giường mà tắt thở.

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014

Những người khỏe nhất



Bạn có tin rằng, những người chỉ cao khoảng một mét rưỡi, cân nặng xấp xỉ 50 kg nhưng lại khỏe hơn người cao hai mét, nặng trên 250 kg hay không? Chuyện là có thật chứ không hề đùa chút nào. Mới biết thế gian này không hiếm chuyện lạ đâu nhé. Vậy những con người nắm giữ kỷ lục kia ở đâu? Họ là ai? Xin thưa: Đó là những con người nhỏ thó, nhưng lại có sức chịu đựng vô cùng dẻo dai. Họ ở trong môi trường đặc biệt, một chế độ chuyên sản sinh ra những kỷ lục khiến loài người kinh ngạc.
Tôi đã được xem cuộc thi dành cho những người khỏe nhất hành tinh, được phát trực tiếp trên kênh truyền hình nước ngoài. Tại đây, họ thi các môn thể thao phối hợp để thử thách sức khỏe, mục tiêu là chọn ra một người xứng đáng với danh hiệu “Khỏe nhất hành tinh”. Những lực sĩ này đến từ mọi nơi trên thế giới, họ có sức khỏe siêu phàm, có thể nâng được cả một chiếc xe hơi, hoặc dùng dây kéo những vật nặng mà người thường không tài nào làm nổi. Các lực sĩ thường có chiều cao xấp xỉ 2 mét, cân nặng trên dưới 200 kg. Quả là những lực sĩ Hecquyn thời hiện đại, họ nhận được rất nhiều sự hâm mộ và thán phục của mọi người.
Dân tộc nào trên thế giới cũng có truyền thống thượng võ, đề cao sức mạnh con người. Vì lịch sử loài người chính là quá trình chế ngự thiên nhiên, mà phương tiện ban đầu là thể lực, trước khi có máy móc hiện đại như bây giờ. Cho nên nguồn gốc chinh phục thế giới, cải tạo tự nhiên chính là sức mạnh của cơ bắp. Sức khỏe để lao động phát triển xã hội, để chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Cho nên nó được tôn vinh và tái hiện cho hậu thế cũng là một lẽ đương nhiên.
Ở Nhật Bản, có một môn võ vật gọi là Sumo. Những đấu sĩ tham gia được tuyển chọn theo một tiêu chuẩn gắt gao về chiều cao, trọng lượng, sức khỏe. Họ lại được chăm sóc đặc biệt về dinh dưỡng, vì thế mà trọng lượng lớn gấp mấy lần người thường. Đây là môn thể thao truyền thống, nên các võ sĩ nhận được sự tôn trọng của xã hội lắm. Khi thi đấu, hai võ sĩ đứng trên một võ đài nền đất vuông cao, với vòng rơm bện rộng 4,55 mét được chôn một nửa ở dưới đất. Võ sĩ vấn tóc ngược kiểu cổ, chỉ đóng khố. Họ túm lấy nhau và vật, ai bị đẩy ra ngoài vòng hoặc ngã chống tay hay đầu gối trước là coi như thua cuộc. Hiện nay, võ sĩ Sumo người Nhật nặng nhất là anh Yamamotoyama, với trọng lượng 265 kg. Nhưng người nặng nhất lại là một võ sĩ Sumo người gốc Hawaii là Konishiki, anh này cân nặng 284 kg. Quả là những người có thể lực và sức khỏe đáng khâm phục phải không quý vị?
Lực sĩ khỏe nhất thế giới hay các võ sĩ Sumo được nổi tiếng như vậy là vì họ chưa gặp phải đối thủ đáng gờm. Chứ thực ra, những người khỏe nhất lại đến từ một đất nước xa xôi khác, đó chính là Việt Nam. Hẳn là có người thắc mắc, cho rằng đang nói tếu. Chuyện ngiêm túc hoàn toàn, tôi sẽ chứng minh để quý vị thấy sự đúng đắn và chính xác của nhận định trên.
Người dân Việt Nam chỉ cao hơn mét rưỡi một chút, cân nặng trên dưới 50 kg, nhưng chính họ lại sở hữu một sức khỏe dẻo dai vô địch. Điều đó không phải là nhất thời, mà thực sự đã trở thành đẳng cấp, vì suốt mấy mươi năm nay họ luôn nắm giữ kỷ lục. Và đây là thành tích khiến họ trở nên những người khỏe nhất hành tinh.
Người dân Việt Nam làm việc quần quật suốt ngày để mà nuôi một bộ máy nhà nước tham nhũng lên đến mấy triệu người, chưa kể các tổ chức xã hội khác cũng trực thuộc nhà nước nữa. Hệ thống tham nhũng này là một cái hang không đáy, của cải và mồ hôi công sức vào đó rồi cũng bị nuốt chửng cả. Không chỉ vậy, họ còn phải chịu sự bóc lột và đàn áp thậm tệ, nhân quyền thì bị cướp trắng. Sự thể như vậy đã hơn 70 năm rồi. Trên đời, khó khăn và khổ đau nào, dù có lớn đến mấy thì cũng có giới hạn. Nhưng người dân Việt Nam phải chịu đựng tất cả những thứ đó một cách vô thời hạn, nguyên nhân là họ bị quàng vào cổ cái ách “Chủ nghĩa Cộng Sản” hoang tưởng. Một nhiệm vụ bất khả thi và chưa ai biết đích đến của nó như thế nào. Ấy vậy nhưng không thấy người dân nào phàn nàn hay kêu ca gì cả, chứng tỏ là họ vừa khỏe về thể chất vừa có tinh thần lạc quan vô bờ bến.
Cuộc thi lực sĩ khỏe nhất hành tinh cùng lắm chỉ kéo dài mấy ngày. Võ sĩ Sumo thậm chí chỉ có mấy giây là biết ngay kết quả trận đấu. Người dân Việt Nam chịu đựng sự cai trị của chế độ Cộng Sản đã hơn 70 năm nay. Không còn nghi ngờ gì nữa, họ mới chính là những con người khỏe nhất hành tinh này.

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

Bề ngoài hớn hở mà trong khóc thầm


Tình cảm con người, không có gì đau khổ bằng bị ép buộc. Lời nói và hành động trái với lương tâm dễ khiến cho người ta cắn rứt lắm. Khi bạn ghét ai đó mà phải nói yêu, thấy sai mà phải nói đúng, đau khổ nhưng lại không được khóc than. Tình cảm không được bộc lộ theo đúng quy luật tự nhiên như vậy, lâu ngày sẽ tích tụ trong tâm người ta mà mắc chứng trầm cảm. Y học hoàn toàn phản đối điều này, họ kêu gọi con người hãy thể hiện đúng trạng thái tâm lý của mình để có một sức khỏe tốt. Rõ ràng, khi mà một dân tộc bị bệnh trầm cảm, thì đó là nổi bất hạnh cho cả nhân loại rồi.
 Bệnh này do yếu tố khách quan mang lại, cụ thể là môi trường xã hội. Điều mà chúng ta tạm gọi là “Chứng trầm cảm xã hội”. Môi trường đó ngăn cản, đe dọa người ta thể hiện những tình cảm tự nhiên chân chính. Muốn chữa chứng bệnh quái ác đó, phải nỗ lực cải tạo môi trường xã hội mà mình đang sống, khiến cho nó trở lại với quy luật tự nhiên ban đầu. Công việc này cần sự liên kết của mọi cá nhân trong xã hội. Ngăn ngừa và loại bỏ dần vi rút gây bệnh, để nó không thể lây lan và hoành hành được nữa. Nói cách khác, đó là một cuộc cách mạng xã hội.
Người Việt Nam ta (cũng như tại các quốc gia Cộng Sản khác) là những người mắc chứng “Trầm cảm xã hội” nặng nhất. Dĩ nhiên, đó là kết quả tích tụ nói dối lâu ngày. Nguyên nhân của sự kìm kẹp, đàn áp và không có tự tự do ngôn luận. Nếu bạn hỏi người dân Việt Nam hay Triều Tiên về mức độ hài lòng với cuộc sống, thì chắc chắn họ sẽ trả lời rằng: “Chúng tôi là những người hạnh phúc nhất thế giới”. Tại sao họ lại nói như vậy, trong khi bản thân khổ sở vì bị bóc lột và cấm đoán đủ thứ? Tại vì họ sợ chế độ độc tài, họ không dám nói thật lòng mình. Tình cảnh đó thật là nực cười và đáng thương. Giống như chuyện một người bị kẻ ác đánh đập và đối xử bất công nhưng lại không được khóc, ngược lại còn phải làm ra bộ tươi cười khoẻ mạnh. Thậm chí còn nói rằng mình rất hạnh phúc và được đối xử tử tế nữa. Chưa hết, anh ta còn phải ca ngợi kẻ đã bóc lột và ngược đãi mình là vinh quang, vĩ đại.
Một xã hội độc tài mà muốn chứng tỏ ta đây có tự do dân chủ, chẳng khác gì việc người ta tô vẽ và trang trí cho địa ngục trông giống như thiên đàng vậy. Cho dù sự giả tạo đó có tinh vi mức nào, thì địa ngục cũng sẽ không bao giờ có được ánh sáng của tự do, công lý, hạnh phúc và yêu thương cả.
Cái sự mâu thuẫn khó chịu lắm, nó khiến cho người ta day dứt khôn nguôi. Đó là một gánh nặng không dễ gì giải thoát. Gánh nặng thể xác thì dễ dàng trút bỏ, nhưng gánh nặng tâm hồn thì như chứng bệnh nan y, càng để lâu càng khó chữa. Nhà nước xây một cái hàng rào vô hình để ngăn cản sự thật trong mỗi người dân Việt Nam, khiến nó ứ trệ mà không lưu thông được. Người dân sợ hãi, nên tự động lập cho mình một quy trình nói dối. Tương tự như cái máy cắt suy nghĩ treo trong đầu vậy, mỗi khi có ý nghĩ đúng thì lập tức nó tự động cắt đi, không để bột phát ra bên ngoài.
Xưa nay chỉ nghe nói đến máy cắt sợi, cắt giấy hay cắt cỏ. Cái máy cắt suy nghĩ thì bây giờ mới nghe nói đến vậy, có lẽ thuật ngữ này xuất hiện kể từ khi có chế độ Cộng Sản đến nay.
Người dân có thể nói về chuyện tự do cạnh tranh và chống độc quyền. Họ rất ủng hộ điều này, và cho rằng có cạnh tranh thì xã hội mới phát triển và tiến bộ. Ấy nhưng khi nói đến cạnh tranh chính trị, đa đảng thì họ lại câm tịt. Lúc này cái máy cắt suy nghĩ trong đầu họ tự nhiên hoạt động và cắt một cái roẹt. Người dân cũng luôn ước ao đất nước mình có được cuộc sống như người Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp hay Đức. Nhưng họ lại phải tự mâu thuẫn bằng việc lên án những nước đó, và ca ngợi chế độ Cộng Sản tươi đẹp văn minh.
Ở địa ngục nhưng lại phải nói là nơi thiên đường. Sống trong cảnh áp bức  bất công nhưng lại cho rằng mình đang có tự do. Khổ đau nhưng lại phải làm ra vẻ hạnh phúc. Sự thể đó quả là bi kịch cho người dân Việt Nam lắm. Cũng giống như người ta đeo mặt nạ, cái mặt nạ thì vui cười, nhưng ẩn sau đó là khuôn mặt u sầu của chủ nhân. Đúng là: “Bề ngoài hớn hở mà trong khóc thầm” vậy.

Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2014

Kiếp sau


Thức và Thùy Dung là đôi vợ chồng trẻ mới cưới, cuộc sống gắn bó rất mực yêu thương. Hàng xóm láng giềng ai cũng vui mừng cho hạnh phúc ấm êm của họ. Thức là giáo viên cấp hai xã Thanh Hoa, anh về xã nhà dạy học cũng bởi mối duyên nợ với quê hương. Vì ở đó có Dung,  người con gái xinh đẹp, nết na đang chờ đợi. Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông, đến khi Thức tốt nghiệp trường cao đẳng sư phạm tỉnh thì mới chính thức kết hôn. Từ đó Dung buôn bán ở chợ, sớm hôm tảo tần. Hai người như đôi chim câu đẹp lứa, tháng ngày ríu rít bên nhau.
Ngôi nhà của họ xinh xinh, bao quanh bởi vườn rau và cây ăn trái. Không chỉ bán hàng giỏi giang, mỗi khi rảnh rỗi Dung còn để công chăm sóc cho mảnh vườn nhỏ. Nó như một khu vườn địa đàng, nơi chứng kiến những tháng ngày hạnh phúc của chủ nhân. Bên vườn cây trái trĩu cành, khung cảnh ngôi nhà cũng luôn tràn ngập sắc hoa. Dung rất yêu thích hai cây Mẫu Đơn trồng trong bồn trước nhà. Cô thường xuyên chăm sóc để nó nở hoa sặc sỡ.
Bữa nay chủ nhật nên Thức không đi trường, Dung cũng nghỉ chợ một buổi để làm việc nhà. Khi công việc đã vãn, hai vợ chồng cùng ngồi bên cây hoa mẫu đơn trước thềm để trò chuyện và ngắm nhìn cảnh vật. Ngoài vườn, những luống cà trổ hoa tím biếc, giàn bí xanh đã ra những chùm trái dài buông thỏng. Trái cây lủng lẳng trên cành, đung đưa trong gió sớm. Họ cảm nhận khung cảnh giản dị và bình yên đó với tất cả niềm yêu thương. Bấy giờ hoa mẫu đơn đang nở những đóa đỏ chói, căng tràn nhựa sống. Dung đưa tay hái một bông hoa, âu yếm nhìn chồng rồi khẽ đọc hai câu thơ:
Tặng chàng một đoá mẫu đơn
Như tình em đó suối nguồn yêu thương
Bất ngờ và cảm động, Thức đón nhận bông hoa rồi ôm vợ vào lòng mà rằng:
- Anh hứa sẽ suốt đời ở bên em!
Hai người siết chặt tay nhau, khuôn mặt Dung lúc này đỏ lên vì hạnh phúc. Nắng đã bắt đầu lên cao, ngoài vườn lũ chim sâu đang chuyền cành ríu rít gọi bầy.
Bao kỷ niệm buồn vui đong đầy tâm hồn đôi vợ chồng trẻ. Cuộc sống êm đềm của họ cứ thế trôi đi, lúc vui sum họp, khi buồn chia xa. Mới đó mà thấm thoắt đã nửa năm trời.
o0o
Một ngày đầu tháng 9, buổi tối hôm đó Dung thủ thỉ với chồng:
- Mai là ngày giỗ bố em, từ sáng sớm em phải về bên ngoại để chuẩn bị mọi thứ.
Thức cầm tay vợ nói:
- Anh xin nghỉ dạy một bữa để đưa em về ngoại nhé.
- Không cần đâu. Anh cứ đi dạy, để em về một mình được rồi. Chiều em lại về thôi.
Thấy vậy Thức yên tâm mà không nói gì nữa, anh đi chuẩn bị đồ đoàn để sớm mai cho vợ khởi hành. Đường về bên ngoại không xa lắm, cũng chỉ độ chục cây số, nhưng phải qua bến đò nên có phần hơi cách lế.
Hôm sau, tiễn vợ xong Thức lại đi trường như mọi khi. Đến chiều mà vẫn chưa thấy Dung về, anh đã có ý ngóng đợi. Nghĩ rằng vợ mình lâu ngày về ngoại, bữa nay gặp gỡ mọi người nên có dịp trò chuyện, vả lại còn phải dọn dẹp mọi thứ nên về muộn. Trời đã xẩm tối, lúc này trống ngực anh đã bắt đầu đập liên hồi, linh cảm như có chuyện gì đó chẳng lành.
Có tiếng chó sủa gấp gáp ngoài cổng. Tưởng vợ về nên Thức vui mừng ra đón, chợt thấy cô cháu họ đang hốt hoảng từ ngoài cổng đi vào. Vừa nhìn thấy Thức cô đã mếu máo:
- Chú Thức ơi! Cô Dung bị nước cuốn trôi mất rồi!...
Rồi cô òa lên mà khóc nức nở. Qua tiếng kể ngắt quãng của cô, anh biết là Dung đã gặp tai nạn đắm đò. Nguyên nhân là thuyền chở đông người, chòng chành ra đến giữa dòng thì bị lật. Trên thuyền lúc ấy có mười mấy người, nhưng người ta chỉ cứu được có 5 người thôi, còn lại đều bị nước cuốn trôi. Bây giờ đang mùa mưa, nước sông cuồn cuộn nên việc tìm kiếm thi thể rất khó khăn. Cô nghe mọi người nói, trong số những người bị nước cuốn có Dung. Thức không còn tin vào tai mình nữa, anh lấy xe máy rồi lao thẳng ra bến đò như một người mất hồn.
Cả ngày hôm sau, Thức cùng mấy người nữa chia nhau tìm kiếm thi thể vợ trong vô vọng. Đến ngày thứ hai thì hay tin người ta vớt được xác Dung cách chỗ đắm đò độ 7 – 8 cây số xuôi về phía hạ nguồn. Nhận lại xác vợ, Thức vật vã khóc lóc thảm thiết. Nhìn cảnh tượng đó ai cũng đau lòng mà không kìm được nước mắt. Người bạn đời bấy lâu chung sống trong hạnh phúc, giờ đây đã bỏ anh mà ra đi vĩnh viễn, hỏi sao không khỏi đau lòng?
Rồi thời gian vẫn lặng lẽ trôi, cho dù người ta hạnh phúc hay khổ đau. Thời gian là người hàn gắn mọi vết thương hữu hiệu nhất, là đấng sáng tạo đầy quyền năng. Bởi vậy mà Thức cũng dần nguôi ngoai nỗi đau mất vợ, anh chấp nhận điều đó như một thực tế, và tìm lãng quên trong công việc dạy dỗ học trò.
o0o
Cách xã Thanh Hoa vài cây số theo đường chim bay, có một xã gọi là Phúc Hậu. Ở đó có đôi vợ chồng hiếm muộn, cưới nhau đã gần mười năm nay mà vẫn chưa có con. Cô vợ thường xuyên đi chùa, cầu xin trời phật ban cho đứa con để vui cửa vui nhà. Tuy chưa được như ý muốn, nhưng thành tâm của họ cũng động đến trời xanh.
Thế rồi ngày kia cô vợ đột nhiên có thai. Đến kỳ thì sinh hạ một bé gái kháu khỉnh, dễ thương lắm. Hai vợ chồng nâng niu như vàng như ngọc, nhân đó mới đặt tên con là Hồng Ngọc.
Hồng Ngọc lớn nhanh như thổi, lại xinh xắn lạ thường. Thấm thoắt cô bé đã được 5 tuổi. Một bữa Hồng Ngọc cứ ngồi khóc hoài, nằng nặc mà đòi về nhà mình, ai dỗ dành cũng không chịu nín cả.
 Bà mẹ dỗ:
- Hồng Ngọc ngoan nào! Rồi mẹ cho kẹo và đưa đi chơi nha...
Cô bé càng khóc to hơn và lắc đầu quầy quậy:
- Con không phải là Hồng Ngọc. Tên con là Thùy Dung cơ. Đây không phải là nhà của con, nhà con khác kia...
Mọi người cho đó là lời trẻ con nên cũng không nghĩ ngợi gì. Nhưng cô bé cứ liên tục khóc và đòi về nhà. Bí quá, bà mẹ đành phải hỏi:
- Vậy chứ nhà con ở đâu?...
- Nhà con ở xã Thanh Hoa, trước thềm có hai cây mẫu đơn đẹp lắm. Chồng con tên là Thức...
Ai nấy cùng nhìn nhau cười, đoán rằng cô bé vì bắt chước người lớn nên mới nói như vậy.
Không ngờ mấy hôm sau nữa Hồng Ngọc vẫn quấy khóc. Dỗ dành mãi không được, mọi người mới bàn nhau chiều theo ý cô bé xem sao. Chứ nhìn thấy Hồng Ngọc khóc nằng nặc thế này thì xót ruột lắm. Nghĩ vậy, mẹ cô bé mới hỏi:
- Bây giờ mẹ đưa con về nhà nhé. Con có biết đường không?
Cô bé liền nín khóc và gật đầu đồng ý. Thế rồi mẹ Hồng Ngọc bế cô trên tay, cùng mấy người nữa mà đi về phía xã Thanh Hoa. Mỗi khi đến ngã rẽ, mọi người đang chưa biết đi hướng nào, thì Hồng Ngọc lại chỉ tay: - “Đường này”.
Đi chừng được vài cây số thì Hồng Ngọc tụt xuống đất mà nói:
- Gần đến nhà con rồi...
Rồi cô bé lon ton chạy trước, mọi người vội tất tả đi theo. Hồng Ngọc chạy một mạch vào nhà Thức như là đã quen từ hồi nào vậy. Bà mẹ rất ngạc nhiên, vì chưa đưa bé đến đây chơi bao giờ cả.
Lúc này Thức đang ở nhà, nhìn thấy những người khách lạ thì ngỡ ngàng lắm. Mẹ cô bé chào Thức, ngượng ngùng nói:
- Xin lỗi anh! Bé con nhà tôi cứ đòi về nhà. Cháu nằng nặc cho rằng đây là nhà của nó trước đây...
Thức đang ngập ngừng thì một người khác tiến lên hỏi:
- Xin cho hỏi, có phải anh là Thức?...
Thức đáp:
- Vâng, đúng rồi. Tôi là Thức, dạy học ở trường gần đây.
Mẹ cô bé và mấy người nhìn nhau xác nhận, còn Thức thì không hiểu gì cả, nhưng anh cũng vui vẻ mà mời họ vào nhà.
 Mọi người vào nhà ngồi chơi, họ kể cho Thức nghe câu chuyện của Hồng Ngọc. Anh cười ra chiều cảm thông, cho rằng tính trẻ con là vậy, rồi khen mẹ cô bé cũng chịu khó chiều con. Từ nãy đến giờ Hồng Ngọc rất vui, cô bé tự nhiên như đang ở nhà mình vậy. Bé đi lại trong nhà như đã quen thuộc từ lâu, đến chỗ nào cũng dừng lại ngắm nghía một lúc như để nhớ về kỷ niệm xa xăm nào đó.
Chợt cô bé chạy thẳng vào buồng trong. Mọi người hốt hoảng vì không kịp ngăn cản, bất đắc dĩ mà đành phải theo vào. Họ thấy cô bé đứng nhìn lên cái gác xép, chỉ tay lên đó và nói:
- Váy cưới của con để trên này.
Ai nấy đều ngạc nhiên. Thấy vậy Thức hỏi cô bé:
- Vậy chứ váy cưới của con để ở đâu? Nó như thế nào?...
Không chút suy nghĩ, bé trả lời ngay:
- Váy cưới của con để trong cái rương, được gói lại bằng tấm vải xanh. Váy màu trắng, có thêu hình hai con chim Phượng trước ngực.
Lúc này khuôn mặt Thức tái nhợt. Anh nói với mọi người:
- Chỗ để váy cưới này chỉ có hai vợ chồng tôi biết. Nhưng cô ấy đã mất cách đây mấy năm rồi. Nay cô bé nhắc đến khiến tôi thấy xúc động. Cái rương ấy vẫn được khóa lâu nay. Bây giờ tôi sẽ mang xuống để mọi người cùng xem.
Rồi anh leo lên gác xép mà bê cái rương xuống. Đã lâu rồi không mở, bên trên phủ đầy những bụi, ổ khóa thì vẫn còn nằm nguyên vẹn. Thức đi tìm chìa khóa, vì đang xúc động nên một lúc sau anh mới tìm thấy trong một ngăn kéo. Mọi người cùng chú mục vào cái rương như bị thôi miên. Khi nó được mở ra, bên trong thấy để đầy những quần áo. Thức thò tay vào trong, lấy ra một bọc vải màu xanh và nói, giọng run run:
- Đây là váy cưới của vợ tôi ngày trước...
Rồi anh lần mở tấm vải. Bên trong là một chiếc váy cưới màu trắng. Thức cầm lên cho mọi người cùng xem, thì thấy phía trước ngực áo có thêu hình đôi chim Phượng rất đẹp. Bé Hồng Ngọc thấy chiếc váy thì reo lên:
- A! Váy của con đây rồi...
Rồi cô bé áp cái váy vào người mà rơm rớm nước mắt, trước ánh mắt  dường như hoảng loạn của mọi người. Trong khi người lớn đang ngơ ngác như mất hồn, bé lại chạy lon ton ra thềm và nói:
- Con ra thăm cây hoa mẫu đơn...
 Hồng Ngọc đứng lặng ngắm nhìn cây hoa Mẫu Đơn thật lâu. Thức và mọi người cũng đứng bên mà xem cô bé sẽ làm gì. Chợt Hồng Ngọc giơ tay hái một bông mẫu đơn đưa cho Thức, rồi đọc hai câu thơ:
Tặng chàng một đóa mẫu đơn
Như tình em đó suối nguồn yêu thương
Lần này thì Thức thực sự xúc động. Anh cúi xuống ôm chầm lấy bé Hồng Ngọc vào lòng mà khóc nức nở. Ai nấy lại được thêm một phen kinh ngạc.
Thức nói trong nước mắt:
- Cô bé này chính là linh hồn của vợ tôi. Những gì bé nói chỉ có hai vợ chồng tôi biết được. Không ngờ cô ấy lại đầu thai vào Hồng Ngọc. Chắc là linh hồn còn vướng vất, không nỡ rời xa tôi đó mà...
Nói rồi anh lại òa lên khóc, khiến cho mọi người phải xúm vào mà khuyên giải. Tuy vậy ai cũng cảm thấy kinh sợ trong lòng.
 Vẫn bế Hồng Ngọc trên tay, Thức hỏi mẹ cô bé:
- Vậy năm nay cháu mấy tuổi rồi chị?
Bà mẹ trả lời, nước mắt rơm rớm vì xúc động:
- Đến đầu tháng 9 này là cháu tròn 5 tuổi rồi đó.
Thức cúi đầu buồn bã:
- Đầu tháng 9 này, cũng đúng 5 năm kể từ ngày vợ tôi mất vì bị nước lũ cuốn trôi...
Một sự trùng hợp thật kỳ lạ. Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, họ như cảm nhận được cái không khí huyền bí linh thiêng đang hiện hữu trong lúc này.

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

Thiên Đường nói dối


Trong giao tiếp, nói dối một chút sẽ làm cho câu chuyện của bạn trở nên thi vị. Nhưng nếu trở thành thói quen, thì đó thực sự là một thảm họa. Hẳn ai cũng hiểu được điều này, vì người ta không thể sống trong mê cung lừa dối. Khi mà mọi thứ bị mất phương hướng, chúng ta sẽ không phân biệt được thế nào là đúng sai. Cho nên cần phải có sự hiện hữu của chân lý và sự thật. Niềm tin là nền tảng vững chắc cho mọi mối quan hệ xã hội. Con người không thể xây dựng các giá trị nhân bản dựa trên sự dối trá.
Thế giới có một ngày gọi là “Cá tháng tư”, nhằm vào 1 tháng 4 hằng năm. Hay còn gọi là ngày nói dối, với ý nghĩa đây là ngày hội vui vẻ, tinh nghịch cho những người có tính hài hước. Trong ngày này người ta tung nhiều tin đồn không đúng sự thật, nhằm tạo niềm vui hoặc trêu chọc ai đó. Họ được phép làm điều này trong cả ngày 1 tháng 4, bước sang ngày khác thì mọi sự trở lại bình thường.
Nói dối là rất kinh khủng, bởi nó khiến người ta phải quay cuồng trong giả tạo. Tất cả mọi thứ sẽ bị rối tung rối mù, xã hội đảo lộn hết cả. Cho nên cả năm chỉ có một ngày nói dối là đã quá sức chịu đựng rồi. Một số nước còn quy định chỉ nói dối trong nửa ngày mà thôi (tức là đến 12 giờ trưa ngày 1 tháng 4 thì kết thúc), như các nước: Anh, Canada, New Zealand...; Sở dĩ như vậy vì người dân những nước này bản tính nghiêm túc, thích tôn trọng sự thật.
Chuyện thế giới là vậy, một năm có một ngày nói dối. Ấy nhưng người Việt Nam có hẳn 365 ngày nói dối trong một năm, cứ liên tục như vậy đã 85 năm rồi. Thật là kinh khủng và ngoài sức tưởng tượng, nhưng đó là sự thật chứ không hề bịa đặt chút nào. Vì tôi viết bài này không nhằm vào ngày cá tháng tư. Sở dĩ nói là 85 năm, vì kể từ khi đảng Cộng sản ra đời. Từ đó, người dân Việt Nam không còn biết đến khái niệm nói thật là gì cả.
Tại sao lại như vậy? Nguyên do là tại cái “Chủ nghĩa Cộng sản” hoang tưởng. Đây là một học thuyết ngược đời, không thể áp dụng trên thực tế. Nhưng người ta lại bắt toàn dân phải nghe theo. Không ai dám phản đối, vì nếu làm như vậy thì sẽ bị ngồi tù hoặc giết hại. Thành ra người dân thấy sai mà không phản đối, biết là phi lý nhưng không dám nói. Sự thật thì phải che dấu, nhưng lại toàn nói những điều trái với lòng mình mà thôi. Lâu dần họ trở thành những người nói dối xuất sắc nhất thế giới. Luôn có một cái máy chém treo lơ lửng trên đầu, ai nói thật thì bị nó chém chết. Do vậy mà người ta phải vận dụng hết trí thông minh để phục vụ cho việc nói dối. Rồi rèn luyện đến mức trở thành kỹ năng và phản xạ tự nhiên.
Cái sự nói dối này không chỉ ở người dân, mà toàn xã hội như vậy cả. Bộ máy cầm quyền là những người đi tiên phong. Họ nói dối như cái máy, không cần phải biết ngượng, vì xung quanh ai cũng thế. Chỉ cần trích dẫn câu khẩu hiệu của đảng là rõ ngay: “Nhà nước của dân, do dân vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”. Họ có nói dối hay không, và đến mức nào? Điều này dân tộc Việt Nam và thế giới đều biết cả rồi. Người dân thấm thía hơn ai hết, những 85 năm kia mà. Vì anh có tài đến mấy, cũng không thể lừa dối tất cả mọi người trong mọi lúc được.
Để biết một người có nói dối hay không thì người ta phải dựa vào những người nói thật xung quanh. Nhưng tất cả đều nói dối thì phải làm thế nào? Có lẽ là vô kế khả thi đối với một xã hội như vậy.
Hồi trẻ tôi cũng hào hứng với ngày cá tháng tư lắm, vì nó vui và phù hợp với tâm lý lứa tuổi. Nhưng rồi bổng giật mình nhận ra rằng, những lời nói dối trong ngày này không có tác dụng gì đối với người Việt Nam.  Thì ra quanh năm sống trong dối trá, nay họ đã chán rồi. Chỉ có những lời nói thật mới có thể gây được bất ngờ thú vị mà thôi. Khi nghe những lời nói thật, họ sửng sốt mỉm cười, nhưng bao giờ cũng đe một câu:  “Nói như thế là phản động, coi chừng công an  nó bắt giam đấy!”.
Bởi vậy mà tôi có một đề nghị: Đối với người Việt Nam hiện nay thì ngày “Cá tháng tư” phải đổi thành ngày “Nói thật” mới đúng.
Ở những quốc gia khác, khi ai đó nói dối thì bị người ta khinh bỉ và giận dữ lắm. Việt Nam thì lại coi đó là sự thường, thậm chí còn khen là thông minh và hợp thời vụ. Bởi vậy mà không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là mảnh đất thiên đường của những người nói dối. Dĩ nhiên là thiên đường của dối trá thì cũng như lâu đài cát, nó không thể hiện hữu bền lâu và hữu dụng cho con người được.