Thứ Hai, 28 tháng 4, 2014

Độc Tài - Sự phí phạm tột cùng


Chế độ độc tài không có dân chủ, vì thế mà mọi vấn đề đất nước đều tuân theo quyết định chủ quan của nhà nước. Rồi dẫn đến việc cung và cầu không bao giờ gặp nhau. “Cung” ở đây là các quyết sách do chính phủ ban hành, còn “cầu” chính là ý nguyện của nhân dân.
Vì không có các cơ cấu dân chủ hoạt động, nên không có tự do bàn bạc. Chuyện tham nhũng và lãng phí xẩy ra là điều hiển nhiên rồi. Ngay cả việc sử dụng tiền thuế của người dân làm sao cho hiệu quả và hợp lý cũng không có nốt. Lợi dụng điều này, những kẻ cầm quyền đưa ra các chủ trương và quyết định có lợi cho cá nhân và phe nhóm, trong khi lợi ích của nhân dân thì không hề được đếm xỉa đến. Từ đó mà dẫn đến sự lãng phí và sai mục đích nghiêm trọng. Ví như khi đất nước đang gặp khó khăn, lẽ ra nên dùng tiền để cứu trợ cho dân và giải quyết việc làm thì họ lại cho xây dựng khách sạn nghỉ dưỡng hay trụ sở làm việc nguy nga. Hoặc nhà nước cho triển khai những dự án to lớn, rồi lại bỏ hoang cho cỏ mọc mà không sử dụng. Trong khi đó biết bao người dân lao động thì không có chỗ ở và việc làm. Những dự án mà có thể hoạt động thì cũng không mang lại hiệu quả và lợi ích tối ưu. Ấy là chưa kể những chính sách lẽ ra phục vụ cho mục tiêu ngắn hạn thì người ta lại sử dụng cho dài hạn, và ngược lại. Quyền lực nằm hết cả trong tay nhà nước độc tài, từ đó mà dẫn đến việc họ thường xuyên nghĩ ra những chuyện trời ơi đất hỡi để mà bòn rút tiền của nhân dân.

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

Nghiệp Duyên in bóng trước Đài


“Nhân - Quả” vốn không chỉ là khái niệm đời thường, mà còn là một phạm trù triết học phổ biến. Mọi tôn giáo đều đề cập đến khái niệm này, đặc biệt là đạo Phật. Nhiều nhà triết học lỗi lạc đã có những nhận định xác đáng về thuyết nhân quả, bởi đó là khái niệm nền tảng của mọi ý thức hệ. Nó được phân tích và giảng giải dưới nhiều góc độ, cũng như dạng ngôn ngữ khác nhau. Hiểu một cách khái quát thì có ý nghĩa là “Gieo nhân nào gặt quả nấy”. Hành động làm ra sẽ là kết quả mà ta nhận được, và cứ như vậy luân hồi. Bản thân chúng ta chính là một tấm gương phản chiếu mọi hành động, như khi soi bóng trước đài gương vậy.
Căn cứ vào việc làm mà người ta có thể thấy được “nguyên nhân” cũng như “kết quả” của nó. Nguyên nhân nào thúc đẩy hành động? Khi làm như vậy thì kết quả sẽ ra sao? Và chính cái kết quả đó lại là nguyên nhân khiến cho người ta tiếp tục hành động.
Tương tự như vậy, cách hành xử của một nhà nước đối với người dân  phản ánh mức độ phục vụ công của họ. Nhà nước càng tôn trọng và tận tình phục vụ người dân thì mức độ dân chủ càng cao. Đó là thái độ làm việc của bộ máy công quyền, nhân viên công lực, và người lãnh đạo nhà nước. Xã hội dân chủ thì thái độ của người lãnh đạo bao giờ cũng gần gũi chan hoà, và quan tâm tới người dân. Điều này được suy ra từ nguyên tắc dân chủ: người sao ta vậy, có gì khác nhau? Quan chức xã hội chỉ là một chức danh do người dân thuê mướn, xuất thân đều bình đẳng như nhau, chẳng qua anh thay mặt chúng tôi làm công việc đó mà thôi. Vì vậy mà anh phải hoàn thành nhiệm vụ theo hợp đồng. Nếu hết hạn hợp đồng hoặc không có năng lực thì phải kết thúc công việc để chúng tôi thuê người khác. Ngược lại, nếu nhà nước càng thiếu tinh thần tôn trọng và phục vụ người dân thì càng gần với khái niệm độc tài hơn.
Muốn biết người thì hãy đặt vào vị trí của mình. Đặc trưng của các chế độ độc tài là sự khép kín, vi phạm nhân quyền và tôn sùng lãnh tụ. Vì thế cho nên, những nhà nước độc tài rất sợ bị mất quyền lực, mà không dám trao nó về tay nhân dân. Vì khi cầm quyền, họ bóc lột và đàn áp người dân thậm tệ, cho nên sợ khi nhân dân có quyền lực thì cũng sẽ đối xử với mình như thế. Đó chính là luật nhân quả và báo ứng. Vì vậy mà họ điên cuồng bảo vệ chế độ độc tài, dù vẫn biết rằng đó là chuyện bất khả thi.
Một chính phủ sẵn sàng từ chức và từ bỏ quyền lực (theo quy định của pháp luật), thì nhà nước đó càng dân chủ và thượng tôn pháp luật. Một nhà nước mà thường ngày đối xử và phục vụ người dân tốt thì họ có lo gì khi bị mất quyền lực? Vì nếu có thay đổi thì người ta cũng sẽ đối xử với họ như vậy. . Đó là cách hành xử dân chủ và văn minh. Vì thế mà ở những nước dân chủ phát triển, người ta thích làm dân hơn làm quan chức. Vì người dân thì có quyền đòi hỏi ở quan chức (người làm thuê cho mình), trong khi quan chức lại phải gánh chịu nhiều trách nhiệm xã hội.
Chế độ dân chủ, thì tự do của nhà nước và người dân là tỉ lệ thuận với nhau. Nhà nước càng tôn trọng nhân quyền thì uy tín của họ càng được vững chắc. Ngược lại, nếu họ có hành động hay chính sách gì tổn hại đến người dân thì sẽ bị phản đối, vị thế của nhà nước vì vậy mà cũng bị lung lay. Chế độ độc tài thì ngược lại, tự do của nhà nước lại tỉ lệ nghịch với người dân. Có nghĩa là nhân quyền của người dân càng ít, thì quyền lực của nhà nước càng nhiều và bền vững. Chính vì lẽ đó mà họ không ngừng vi phạm và cướp đi các quyền căn bản của con người.
Tôi thấy cái biểu tượng trên lá quốc kỳ của đất nước Hàn Quốc có ý nghĩa thật là sâu xa. Biểu tượng có hình một vòng tròn âm dương đều nhau. Đó vốn là quan điểm triết học Á Đông, coi vũ trụ được cấu tạo bởi hai thành tố âm và dương. Vì thế mà nó thể hiện cho khát vọng thịnh vượng, hoà hợp trong một chỉnh thể thống nhất. Theo quan điểm tiến bộ ngày nay, thì đó chính là sự bình đẳng và cân bằng, nền tảng của tư tưởng dân chủ.
Muốn người khác đối xử với mình thế nào thì hãy đối xử với người ta như vậy. Nếu anh làm mất tự do của người khác thì chính anh cũng không có tự do. Anh chỉ được tôn trọng khi biết tôn trọng nhân quyền của người khác. Đó là đạo lý mà ai cũng dễ nhìn thấy vậy.
Nhân dân chính là nơi phản hồi hành động của Chính Phủ. Điều đó cũng giống như việc người ta ném một quả bóng vào bức tường, hoặc hét lên trước vách núi. Ném quả bóng càng mạnh thì lực nẩy lại càng lớn. Tương tự, âm thanh mà người ta phát ra to bao nhiêu thì tiếng dội lại từ vách núi càng lớn bấy nhiêu. Đó chính là  Nghiệp Duyên in bóng trước Đài vậy.

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Ngồi buồn nghĩ chuyện vu vơ


Cũng có người cho rằng chẳng hơi sức đâu mà đi lo nghĩ chuyện thiên hạ. Vì ai có thể suốt ngày thương vay khóc mướn kiếp nhân gian? Tôi lại nghĩ hơi khác một chút, chúng ta là cuộc sống, cuộc sống là chúng ta, nó là một chứ chẳng phải hai đâu. Cho nên các bạn đừng có ngạc nhiên, khi thấy mình đôi lúc cũng ngồi buồn mà nghĩ chuyện vu vơ.

Cuộc sống có những chuyện dễ khiến chúng ta phiền lòng. Ví như có kẻ hay hành hung đánh vợ, cho dù cô ấy là người đảm đang xinh đẹp, bao người mơ ước. Báu vật trong tay mà không biết quý, lại khinh rẻ vùi dập. Để rồi đến nổi cô vợ không còn chịu được sự vũ phu của chồng mà đâm đơn ly dị. Chứng kiến cảnh cô gái ra toà với khuôn mặt sưng húp, ai cũng phải xót xa. Rất nhiều người phụ nữ âm thầm chịu đựng tủi nhục, chỉ vì hai chữ “nhẫn nhịn”. Họ cho rằng làm như vậy là để giữ gìn hạnh phúc gia đình. Thực ra đó là một quan niệm rất sai và lạc hậu. Vì mình càng nhẫn nhịn thì đối phương càng lấn lướt và coi thường. Vậy thì còn đâu là sự “bình đẳng” kia chứ. Thành ra không những không giữ được hạnh phúc, mà còn mang thiệt vào thân. Dĩ nhiên lỗi này một phần thuộc về cái xã hội mà họ đang sống, và các cơ quan chức năng.

 Có dương thì ắt sẽ có âm, đó vốn là quy luật. Thế gian có kẻ hay đánh vợ thì cũng có kẻ hay đánh chồng. Có những anh chàng dung mạo phi phàm, đường đường một đấng trượng phu (thậm chí là râu quai nón như Từ Hải), ấy nhưng lại sợ sệt và phục tùng vợ một cách vô điều kiện. Những người như vậy là đã mắc chứng “sợ vợ”, điều mà thiên hạ vẫn gọi là “anh hùng râu quặp” đó, thưa quý vị. Lắm anh khi đứng nói chuyện với những người khác thì hoa chân múa tay, giọng sang sảng như lãnh tụ, nhưng hễ thấy cô vợ xuất hiện là tự dưng hạ thấp giọng xuống rồi im hẳn. Kể cũng lạ? Hay có người ra ngoài xã hội thì rất tài ba xuất chúng, kẻ dạ người thưa, nhưng mỗi khi bước chân về đến cổng là chân tay mềm nhủn, đi lại khép nép, ăn nói nhỏ nhẹ hiền lương. Âu cũng là do cái uy của bà vợ vậy.

Lại có anh nọ tính hay nhậu nhẹt và lô đề. Mỗi lần thiếu tiền anh ta lại về nhà lấy trộm tiền của vợ. Khuyên can mãi không được, chị vợ liền nổi xung mà vật cổ hắn xuống giường đánh cho một trận tơi bời. Thấy hắn còn kháng cự, hai đứa con cũng xông vào giữ chặt lấy bố. Thế là chị vợ tha hồ leo lên lưng chồng mà quất bồm bộp. Lần nào cũng vậy, cứ phát hiện ra chồng lấy trộm tiền là chị ta lại đánh. Hàng xóm nghe nhiều rồi thành quen. Cũng may mà anh chàng này thông minh lanh trí, biết chuyển bại thành thắng trong gang tấc. Ấy là mỗi lần bị vợ đánh bồm bộp thì anh ta lại hét lên: “Đánh cho mày chết này! Chết này!...”. Thành ra hàng xóm cứ nghĩ là hắn đánh vợ chứ không phải bị vợ đánh. Đây cũng là một bài học hay, vẫn có những người biết linh hoạt để “thua trong thế thắng”, nhằm gỡ chút thể diện cho các đấng nam nhi.

Một anh nữa thì suốt ngày bị vợ véo tai và mắng nhiếc. Tình cảnh như vậy đã hơn 20 năm rồi. Sự nhẫn nhịn đó là vĩ đại, tuy nhiên đôi lúc cũng có chút kháng cự. Bữa nọ như mọi lần, mụ vợ lại xách tai hắn lên mà chửi bới. Nhưng lần này thì khác với mọi khi. Hắn vùng ra khỏi tay vợ, rồi chỉ thẳng vào mặt mà nói sang sảng:

- Tao nói cho mà biết nhé! Người ta đã sợ thì để cho người ta sợ. Không phải cứ lúc nào bà cũng bắt nạt tôi được đâu. Hơn 20 năm nay tôi nhịn bà, không phải vì tôi sợ nghe chưa. Chỉ là vì tôi nghĩ đến hạnh phúc con cái, bây giờ chúng nó lớn rồi thì chẳng còn ai nể ai nữa đâu nhé!...

Quá bất ngờ trước lời tuyên bố “phản nghịch” của ông chồng, mụ vợ liền hai tay đứng chống nạnh, trợn mắt mà quát lên:

- Á à! Ông dám phản kháng lại tôi phỏng? Để rồi tôi xem ông dám làm cái gì nào?...

Nói rồi mụ ta túm lấy cổ áo hắn mà đẩy một cái ngã chỏng quèo. Thế là xong, cuộc nổi dậy như vậy coi như đã bị dập tắt.

Chứng kiến cảnh đó, đứa con trai lớn bỉu môi nói mỉa:

- Bố không sợ mẹ đâu, mà chỉ “hãi” thôi!.

Quả là có nhiều bậc nữ nhi không phải tay vừa. Thật xứng với niềm ao ước của nữ sĩ Xuân Hương:

“Thân này ví đổi làm trai được

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”.

Trước đây có một vị lãnh đạo Việt Nam đi thăm Thái Lan. Ông ta tự hào khoe với nhà Vua Thái Lan rằng: “Nước tôi đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ”. Nhà Vua nhũn nhặn trả lời: “Đất nước chúng tôi hai trăm năm nay không có chiến tranh, đó cũng là điều đáng tự hào. Thưa ngài!”.

 Đường lối của đất nước Thái Lan thật tuyệt vời, yêu chuộng hoà bình mà không hiếu chiến. Hoà bình sẽ mang lại hạnh phúc và thịnh vượng, chúng ta đều biết điều đó mà. Người xưa cũng có câu: “Hoà khí sinh tài”, thật đúng phải không quý vị? Chứ không ai dại gì mà lại ham hố đánh nhau, có thắng được thì cũng tan nát hết cả rồi, còn lấy đâu ra hạnh phúc phồn vinh nữa. Đất nước cũng vậy, mà gia đình cũng thế.

Cho nên câu “May hơn khôn” cũng không sai. Ai may mắn thì gặp được người bạn đời tốt, biết điều và ý hợp tâm đầu. Nếu không thì cũng đành phải chịu vậy, vì con người ta thì ai cũng có ưu có nhược cả. Cho nên phải yêu thương và giúp nhau cùng tiến bộ để mà xây dựng hạnh phúc. Sở dĩ nói “May hơn khôn” là vì, nhiều khi do hoàn cảnh đẩy đưa mà nên vợ nên chồng, chứ không phải cứ nhất nhất theo ý mình được. Có lúc quyết tâm lấy nhau thì lại không thành, nhưng tự nhiên gặp gỡ lại nên duyên. Duy tâm hơn một chút thì gọi đó là số kiếp và duyên phận vậy.

Thế đấy, chẳng thà mới lớn lên thấy cô nào vừa mắt là cưới phứt đi cho rồi, như vậy lại yên chuyện. Chứ một khi đã biết suy nghĩ đôi chút thì lại thấy sợ. Kẻ không biết thì hay làm bừa làm liều, vì “Điếc không sợ súng” mà. Cứ tình hình mà có nhiều cô nàng hay đánh chồng như vậy thì cũng thấy nản chí lắm. Vì không phải ai cũng hiểu cho cái lý tưởng hòa bình của mình được.

Chủ Nhật, 13 tháng 4, 2014

Bác Ba Bến Nước


Dòng nước trong xanh vẫn miệt mài trôi, lặng lẽ mà chẳng ưu phiền. Có khi mềm mại mà tạo nên phong cảnh hữu tình, nhưng lắm lúc cũng réo gọi oán than như thân phận con người vậy. Tưởng rằng chỉ có tình đời chua xót, ai ngờ đến con nước vô tri mà cũng buồn vui thế sự.
Mùa hè năm ấy tôi về chơi nhà một người bạn. Những ngày hè ngắn ngủi đối với sinh viên quý báu lắm, ai cũng muốn về thăm gia đình hoặc làm một công việc gì đó thật ý nghĩa. Vì có hứa với Phương, nên nghỉ hè là chúng tôi tranh thủ đến nhà cậu ấy chơi vài hôm trước khi tôi về quê.
Quê Phương là một vùng nông thôn xinh đẹp, cách Hà Nội chừng 40 cây số về phía đông. Khung cảnh làng quê yên bình khiến cho tâm trạng chúng tôi cảm thấy thoải mái sau thời gian dài sống nơi phố thị. Tối hôm đó, mọi người trong nhà tập trung trò chuyện bên chiếc bàn ấm cúng. Đang kể chuyện làng quê vui vẻ, chợt mẹ Phương im lặng mà ngồi trầm ngâm suy nghĩ điều gì đó lung lắm. Một lúc sau bà nói:
- Sáng mai hai con tranh thủ sang thăm bác Ba một lúc nhé. Để cho hai bác được vui và yên lòng.
Nói xong bà lại im lặng thở dài. Phương cho tôi biết, bác Ba là chỗ họ hàng thân thích với bố cậu. Hai nhà thường đi lại với nhau thân tình lắm. Những năm 1970, bác ấy là bộ đội chiến đấu trong chiến trường Quảng Trị ác liệt. Bác là thương binh, hiện giờ vẫn còn mảnh đạn găm trong đầu. Thời gian gần đây lại phát bệnh nặng nên ít đi đâu được. Nghe nói vậy tôi cũng cảm thấy mủi lòng, mà khuyên bạn mình sáng mai nên đi thăm bác.
Chúng tôi chạy xe máy dọc con sông uốn lượn trong cái nắng sớm mùa hè. Những bãi ngô xanh mướt xuôi theo triền đê như muôn vàn gợn sóng trãi dài mềm mại. Đi ước độ được mấy cây số thì trước mắt hiện ra một con đập thuỷ nông nhỏ, dòng nước trong xanh hiền hoà chảy. Phương nói rằng đập này được xây từ hồi Pháp thuộc, cho đến bây giờ vẫn  hoạt động tốt hơn những công trình mới thi công gần đây. Cuối dốc con đập có một lối mòn chạy quanh co vào phía trong, từ đây có thể  nhìn thấy ngôi nhà ngói lụp xụp ẩn sau những lùm cây.  Phương chỉ tay về phía đó và nói:
- Nhà bác Ba ở đây!
Chúng tôi đẩy cánh cổng bằng gỗ tre ọp ẹp khép hờ rồi bước vào bên trong. Tôi ái ngại hỏi:
- Gia đình bác Ba ở đây một mình sao?
Phương cúi đầu trầm ngâm:
- Ừ!...
Vào đến sân thì nghe thấy tiếng trẻ con đang chơi đùa. Ba đứa trẻ mặt mày lấm lem, áo quần xơ xác đang chơi trò nghịch đất dưới gốc cây Hoè. Thấy hai chúng tôi đến chơi, đứa lớn nhất tồng ngồng đứng lên hét toáng vào trong nhà:
- Mẹ ơi! Có khách...
Hai đứa nhỏ hơn ngừng tay trố mắt nhìn một lúc, rồi lại tiếp tục cùng nhau nghịch đất. Dường như cái trò chơi giản dị nhất đời này đang thu hút tất cả tâm trí của chúng.
Có tiếng dép lẹt xẹt từ trong nhà đi ra. Thấy người đàn bà – Phương nhanh nhảu:
- Chào cô ạ!
Người đàn bà rướn cặp lông mày vì ngạc nhiên, rồi reo lên vui vẻ:
- Phương đó hả cháu? Nghỉ hè về nhà chơi phải không?...
- Dạ!
Rồi chúng tôi theo chân cô Mai (vợ bác Ba) vào nhà. Bên trong, một bộ bàn ghế uống nước tồi tàn được kê gần cửa sổ. Tại đó người đàn ông gầy gò trạc 60 tuổi đang ngồi, trên tay cầm điếu thuốc lào, hai mắt hốc hác nhìn về chốn xa xăm. Phương giới thiệu với tôi:
- Đây là bác Ba...
Tôi chào bác. Bác Ba gật đầu mỉm cười, nhưng có vẻ không hiểu những gì chúng tôi nói lắm.
Cô Mai buồn rầu:
- Dạo này bác bị như thế suốt. Ngồi ngơ ngẩn mà không biết chuyện gì cả. Cứ bình thường được mấy ngày lại mê mê tỉnh tỉnh...
Nói rồi cô đưa tay mà quệt nước mắt, sụt sịt khóc.
Tôi ái ngại hỏi cô:
- Cô đã đưa bác đi chữa bệnh chỗ nào chưa?
Cô cho biết là cũng đi bệnh viện mấy lần, nhưng họ nói viên đạn nằm chỗ hiểm nên khó mổ lắm. Nếu muốn phẫu thuật thì phải đi tuyến trung ương, mà như vậy thì tốn rất nhiều tiền. Cô lại sụt sịt:
- Cháu coi. Gia cảnh cô khó khăn, những năm đứa con lút nhút còn tuổi ăn tuổi lớn. Nhà chỉ có mấy sào ruộng, lo cho chúng ăn học còn không xong, lấy đâu tiền mà chữa chạy cho Bác. Đành phải để vậy, phó mặc cho trời thôi...
Chợt một tiếng thét vang lên khiến tôi giật bắn mình :
- Xung phong! Xung phong!...
Khi tôi hoàn hồn mà quay nhìn lại nơi phát ra tiếng thét, thì thấy bác Ba hai tay nâng cái điếu cày lên như đang bắn súng, miệng thì phát ra âm thanh đạn nổ:
- Pằng...pằng...
Lúc này cô Mai vội chạy lại ngồi cạnh mà ôm chặt lấy bác, cậu bạn của tôi cũng đến ngồi bên mà giúp cô một tay. Vừa lấy tay xoa đầu cho bác Ba, cô Mai vừa nói như nựng trẻ con:
- Ông ngoan nào, đừng có phá như vậy nữa! Các cháu nó đến chơi chứ có phải ai đâu...
Thấy tình cảnh như vậy, tôi hỏi cô:
- Chú bị thế này mà không được nhà nước trợ cấp thương tật hay hỗ trợ chữa bệnh hả cô?
Cô Mai lại phân trần:
- Chú không có chứng nhận thương tật nên không được công nhận là thương binh cháu ạ. Vì vậy mà không có bất kỳ một khoản trợ cấp nào cả.
Đến đây Phương cũng bức xúc mà xen vào:
- Trong khi đó lại có một ông cùng làng, chẳng đi bộ đội ngày nào mà được chứng nhận là thương binh, nhận tiền trợ cấp đầy đủ. Thực ra ông ta chỉ bị tai nạn máy cưa mà cụt mất hai ngón tay. Rồi chẳng hiểu chạy chọt kiểu gì mà có được cái suất thương binh chống Mỹ...
Tôi lắc đầu ái ngại:
- Vậy sao cô không đến gặp chính quyền địa phương hoặc “Hội Cựu chiến binh” để trình bày với họ?
- Cô có đến mấy lần, nhưng họ đòi phải có giấy chứng nhận thương tật của đơn vị. Khổ lắm, những người cùng đơn vị thì đã hy sinh hết, lấy ai mà chứng nhận bây giờ? Trong khi bác lại cứ bị bệnh thế này. Cũng đến “Hội Cựu chiến binh”, nhưng lại cứ nghe nói ông chủ tịch hội đi họp tỉnh họp huyện gì đó suốt. Cô thì bận công việc túi bụi, đành phải thôi vậy. Người ta cũng khuyên là nên chạy tiền thương binh cho bác. Nhưng nhà mình chạy ăn không đủ, lấy tiền đâu mà chạy suất thương binh hả cháu? Vả lại bác là thương binh thật, việc gì mà chạy ở đâu nữa?...
Lúc này tôi cũng cảm thấy bực mình hết sức. Không hiểu người ta sinh ra cái “Hội cựu chiến binh” để làm gì, mà lại không bảo vệ quyền lợi cho những người như bác Ba kia chứ? Tiện thể, tôi giận luôn cái cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, khiến cho người dân phải hy sinh xương máu một cách vô ích . Nó chẳng mang lại gì ngoài máu và nước mắt, cùng muôn vàn nghịch cảnh.
Nước mắt vòng quanh, cô tiếp tục kể:
- Mỗi lần lên cơn bác đều như vậy. Cả người co giật, miệng thì cứ hò hét “xung phong”. Nếu không có người giữ chặt lấy là lại đập phá hết mọi thứ đó cháu...
Mượn cớ ra sân chơi với mấy đứa trẻ, tôi bước vội ra khỏi nhà để ngăn những giọt nước mắt chực trào ra.
Ra đến chỗ bến nước, tôi đút hai tay vào túi quần, đứng hít thở thật sâu để lấy lại tinh thần. Dưới chân, những con nước hiền hoà vẫn không ngừng trôi chảy. Và có lẽ cũng như cuộc đời kia, dưới dòng nước sâu là biết bao sỏi đá chơ vơ như những số phận con người bị thế gian ruồng bỏ.

Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

Những con Ngõ Hà Nội

   
Ở Hà Nội có những con ngõ không tên, nối liền các khu phố với nhau như một ma trận, nó hẹp đến nổi chỉ vài chiếc xe máy tránh nhau cũng đủ chật vật lắm rồi. Đây là một hệ thống giao thông ngầm, mà chỉ người dân sống trong những khu vực gần đó mới biết và thông thạo được. Người không quen, đi vào đây bị lạc là cái chắc. Ấy nhưng nó lại là cả một thế giới sinh hoạt sống động, khác với cái vẻ bề ngoài thầm lặng mà người ta vẫn thường thấy.

     Buổi sớm mùa đông, đút hai tay vào túi áo ấm mà đi dạo trong những con ngõ này thì thật thú vị. Ta như lạc trong thế giới riêng tư mà quên rằng đang ở một thành phố lớn, hai bên là những ngôi nhà dựng đứng như tường thành. Phần lớn nhà cao tầng quay lưng ra ngõ, vì thế mà tạo nên cái không khí vắng vẻ. Đôi lúc vừa đến chỗ ngoặt thì bất ngờ bắt gặp một hàng ăn sáng, bán bún hoặc phở cháo gì đó, khói bốc lên nghi ngút thơm lừng. Quán chủ yếu phục vụ khách quen trong ngõ, chứ người qua đường ít khi biết mà đến ăn. Sau khi ăn sáng với tô hàng quà nóng hổi, khách đi bộ thêm một quãng ngắn thì có thể gặp quán nước nào đó. Quán này cũng chỉ dành cho khách đi bộ, vì không có chỗ để mà dựng xe. Vừa ngồi uống chén nước chè nóng, vừa có thể cảm nhận nhịp sống tĩnh lặng yên bình, điều hiếm gặp ở một thành phố ồn ào đông đúc.

Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014

Áo Gấm đi đêm


Chẳng cứ gì người Việt ta, loài người nói chung thì ai cũng muốn cái hay cái tốt của mình được thiên hạ biết đến cả. Nó sẽ là tài sản chung của loài người, và được các thế hệ sau hưởng thụ, phát huy. Có như vậy thì những điều tốt đẹp mới được nhân lên ngày một nhiều, nếu không sẽ thiệt thòi cho nhân loại lắm.  Ấy là chưa kể trong nhiều lĩnh vực, nó còn là quyền được thông tin của con người nữa. Ví như quản lý công, ngân sách nhà nước, bầu cử, các quyền con người...; đó là những lĩnh vực không của riêng ai, là tài sản chung, nên phải được công khai minh bạch cho mọi người dân được biết. Điều này không chỉ nói miệng đâu, mà được quy định trong luật hẳn hoi đấy.
Vậy thì làm cách nào để người ta có thể biết đến cái hay cái tốt của mình? Trước hết là bạn không được che dấu những ưu điểm bản thân, sau nữa là phải tự do và minh bạch thông tin. Nếu tự nói là mình tốt, mình hay thì sẽ không ai tin cả. Mọi người chỉ có thể tin tưởng khi biết đó là sự thật. Vả lại luật báo chí quốc tế nghiêm lắm, phóng viên mà đưa tin không đúng sẽ bị kiện ra toà ngay. Như vậy là vừa bị toà soạn kỷ luật vừa bị toà án phạt đền bù trách nhiệm nữa.
Bao giờ cũng vậy, muốn được chiêm ngưỡng sự vật nào đó thì người ta phải chờ ánh sáng công luận. Chừng nào cái bí ẩn kia còn ở trong bóng tối thì còn phải mòn mỏi trông chờ, vì không biết thực hư ra sao.
Vì vậy mà có những chuyện khiến cho thiên hạ chờ đến mỏi mắt. Bởi nghe nói là vĩ đại và đỉnh cao trí tuệ lắm, nhất là nó lại nằm trong màn đêm bí ẩn nữa. Nhưng sự đời là vậy, càng bí ẩn bao nhiêu thì càng gây cho người ta sự tò mò bấy nhiêu. Cũng vì muốn khám phá cái “vĩ đại” và “đỉnh cao trí tuệ” kia mà lắm người đã phải ngồi tù, thậm chí là bỏ mạng. Thành ra mọi người sợ hãi mà hình dung cái “vĩ đại” kia như một con quái vật khổng lồ nấp trong bóng tối. Nó tóm lấy và nuốt chửng bất cứ ai cố gắng lôi nó ra ánh sáng. Nhưng nhất định người ta sẽ không bỏ cuộc, vì sự phát triển của loài người là quá trình khám phá và chinh phục những điều bí ẩn.
Cho đến bây giờ, những người nỗ lực khám phá đều đang ở trong tù, vì vậy mà chưa ai biết quái vật kia hình thù như thế nào cả. Không chỉ cả dân tộc Việt Nam khát khao, mà thế giới cũng mong chờ lắm. Lo lắng và sợ hãi, người ta đặt cho nó cái tên “Đảng Quái vật”. “Đảng Quái vật” bắt người dân phải đi theo con đường “Chủ nghĩa Cộng Sản” mà nó đã lựa chọn. Những ai chống lại đều bị giết hại, bỏ tù, đánh đập và sĩ nhục đủ điều. Dĩ nhiên là ai cũng sợ hãi nó. “Đảng Quái vật” cấm tự do thông tin, chỉ duy nhất hệ thống truyền thông nhà nước là được phép hoạt động. Đó là nguyên nhân mà hình ảnh của nó luôn nằm trong bức màn bí ẩn. Người ta được nghe quá nhiều điều tốt đẹp và vĩ đại, mà lại không được tận mắt chứng kiến sự thật bao giờ. Trong vương quốc của “Đảng Quái vật”, mọi quyền lực đều bị thâu tóm, không một đảng phái chính trị nào được phép hoạt động.
“Đảng Quái vật” giới thiệu về bản thân như sau: Công bằng, dân chủ, văn minh, vinh quang và vĩ đại. Vì vậy mà toàn thể người dân Việt Nam mong có một ngày được thấy chân tướng kia lắm. Họ chờ đến phút giây nó bước ra khỏi bóng tối để hiện ra ánh sáng loài người.
Trong khi chờ đợi, người ta vẫn không ngừng thắc mắc rằng:
Nếu “Đảng Quái vật” nhân ái, vĩ đại, quang vinh thì tại sao lại không muốn cho mọi người biết, mà lại đi bưng bít thông tin? Nếu thực sự tốt đẹp như vậy thì việc có nhiều đảng phái tồn tại sẽ làm cho “Đảng Quái vật” được nổi bật và vẻ vang hơn chứ? Cớ sao lại phải cấm đa đảng? Ông cha ta có câu “Áo gấm đi đêm”. “Đảng Quái vật” có nhiều ưu điểm như vậy mà chỉ một mình biết, một mình hay thì có thiệt thòi và lãng phí quá không?
Khi mà trong lớp học chỉ có một cậu học sinh duy nhất. Quý vị sẽ có phản ứng thế nào khi nghe cậu ta nói:
- Tôi là học sinh giỏi và tốt nhất lớp.
Hẳn là quý vị ngạc nhiên và buồn cười lắm. Buồn cười đến nổi không cần phải đi xem phim hài nữa. Vì chẳng có phim hài nào qua mặt được tình huống này cả.

Thứ Hai, 7 tháng 4, 2014

Túm kẻ trọc đầu


Cái bệnh sợ tôn giáo của người Cộng Sản thì ai cũng rõ rồi. Nguyên do là họ đi theo chủ nghĩa vô thần, cho nên mặc nhiên mâu thuẫn với tư tưởng hữu thần. Ban đầu, họ nhục mạ và đập phá tượng Chúa, tượng Phật, phá bỏ đình chùa. Sau này thấy thế không ổn, mới nghĩ ra cách để mà kiểm soát tôn giáo. Vậy là mọi tôn giáo và tín ngưỡng đều bị thâu tóm dưới một ngọn cờ duy nhất: Chủ nghĩa Marx. Câu khẩu hiệu “Đạo pháp – Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” đã nói lên ý nghĩa tuyệt diệu đó. Đạo Phật cũng  phải phục tùng chủ nghĩa Marx, vì chế độ độc tài luôn có thói quen và nhu cầu kiểm soát tất cả.
Tư tưởng của Đạo Phật thì mọi người đều biết. Đức Phật cho rằng, con người ai cũng trải qua: Sinh, lão, bệnh, tử. Trong suốt hành trình đó, người ta luôn phải gánh chịu mọi khổ não trên đời. Nguyên nhân phát sinh nổi khổ là “sự ham muốn”, tức “dục vọng”. Các ham muốn này cũng là nguồn gốc của Luân hồi. Vậy thì muốn “diệt khổ” thì phải từ bỏ mọi ham muốn trên đời. Quá trình tu tập của nhà sư chính là sự tu luyện để đạt đến cảnh giới giác ngộ, từ đó mà trở nên đắc đạo. Người đi tu từ tâm bác ái, không tham, sân, si.
Triết lý Đạo Phật không có gì xấu, cũng chẳng ảnh hưởng đến ai cả. Người ta tìm đến với Đạo Phật là do giác ngộ và hoàn toàn tự nguyện. Người đi tu không đánh đập ai, không sát sinh, không ôm bom khủng bố. Thế thì tại sao chế độ Cộng Sản lại phải sợ, không để cho họ được tự do thực hành đạo pháp?
Trước đây người Cộng Sản đập phá tượng Phật, đuổi nhà sư ra khỏi chùa, đốt bỏ kinh kệ. Bây giờ họ xây dựng học viện Phật giáo để đào tạo nhà sư, rồi lại xây chùa và cho sư sãi quốc doanh vào đó trụ trì. Kể cũng lạ, không hiểu họ làm như vậy để mà gì? Người nhà Phật chỉ muốn “diệt khổ”, có đấu tranh giai cấp hay xây dựng chủ nghĩa cộng sản gì đâu? Vả lại, nhà sư chỉ trồng vài luống rau trong chùa, đâu có mong muốn tham gia “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”? Mà cái mâu thuẫn lớn nhất là: Đạo Phật thì chủ trương ôn hoà bác ái, không sát sinh. Trong khi người Cộng Sản lại sử dụng bạo lực làm phương tiện cải tạo xã hội. Vậy nên hai quan điểm đó là không thể nào dung hoà với nhau được.
Theo tôi thì “Chủ nghĩa Marx” và “Đạo Phật” khác nhau nhiều lắm. Đạo Phật mênh mông, phổ độ chúng sinh, luôn mở rộng cánh cửa từ bi giác ngộ. Mọi sai lầm khổ não đều được nhà chùa che chở bao dung. Đạo Phật từ khi thực hành, đến một con ruồi cũng không giết hại, cứu khổ cứu nạn chúng sinh. “Chủ nghĩa Cộng Sản” từ khi ra đời, đã giết hại hàng trăm triệu người, gây bao mất mát đau thương cho nhân loại. Những kẻ gây ra nhiều tội ác sai lầm lẽ ra phải cúi đầu sám hối trước Đức Phật mới đúng, cớ sao lại bắt ngài phải cúi đầu trước chúng? Như thế chẳng ngược đời lắm sao?
Cổ nhân có câu “Túm kẻ có tóc, không túm kẻ trọc đầu”. Nay Cộng Sản túm luôn kẻ trọc đầu là nhà sư, chuyện bây giờ mới thấy vậy. Kể cũng tài thật.
Phật Pháp vô biên. Mô Phật!

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

Đi theo kiểu không Phanh

Hà Nội những năm 80 của thế kỷ 20 còn nghèo lắm. Vật dụng gia đình được bày bán trên phố cũng rất ít và thô sơ. Ví như cái quạt điện mà người ta thường dùng là loại quạt con cóc, khi chạy thì phát ra tiếng kêu ù ù như tàu điện. Sở dĩ có tên như vậy là vì chiếc quạt đã nhỏ xíu lại nằm chồm hổm như con cóc. Nhà nào sang và điều kiện hơn thì có thêm chiếc quạt tai voi do Liên Xô sản xuất. Đây cũng là một kiểu quạt con cóc nhưng cánh quạt to hơn và giống cái tai con voi, tiếng kêu của nó cũng không hề nhỏ chút nào. Cái quạt con cóc thì không có vành đai bảo hiểm xung quanh, cho nên rất nguy hiểm cho người sử dụng. Nhất là với trẻ con, nếu nghịch ngợm mà chẳng may bị cánh quạt chém phải thì đau điếng rồi hoảng hồn mà khóc thét lên. Lắm vụ còn gây ra hoả hoạn chập điện do cánh quạt quấn phải màn. Phương tiện giao thông lúc này chủ yếu bằng xe đạp. Người nào công tác ở nước ngoài về, có chiếc xe máy mobilet là cũng đã thấy hãnh diện lắm. Loại xe này chạy vè vè trông giống như con cào cào, tuy vậy cũng sướng gấp vạn lần người đi xe đạp rồi.

Thứ Ba, 1 tháng 4, 2014

Sắc màu cuộc sống


Còn nhớ hồi năm 1989, tôi theo Ba ra Hà Nội thăm anh trai đang ôn thi đại học. Hai ba con tôi bắt xích lô đi dọc con đường Hoàng Hoa Thám để xuống khu Nghĩa Đô – nơi anh đang ở. Ngồi trên xe, Ba nói với tôi:
- Anh con giờ này chắc đang đi học chưa về.
Khi đó tôi còn mãi ngắm nhìn dòng người đông đúc và phố xá hai bên đường. Đối với một đứa trẻ mới ra thành phố như tôi, thì dù sao cuộc sống nơi đây cũng mang nhiều sắc màu đáng để tìm hiểu.
Lúc bấy giờ khu tập thể Nghĩa Đô (quận Cầu Giấy) còn là một khu mới xây dựng, với những toà nhà cao 4 đến 5 tầng. Anh trai tôi ở tận tầng năm một dãy nhà tập thể, từ đây nhìn ra có thể thấy được hồ Nghĩa Đô và cái sân vận động gần đó. Đang là mùa hè nên buổi tối mọi người mang ghế ra hành lang ngồi hóng mát, mấy phòng xung quanh cũng đều như vậy cả. Tôi có biết một cô phòng bên (bây giờ không còn nhớ tên, nhưng nhớ lúc ấy cô cũng khoảng ngoài 50 tuổi gì đó). Thấy tôi tò mò, cái gì cũng hỏi, cô thú vị lắm.  Bởi vậy mà hai cô cháu trò chuyện cởi mở. Cô nói:
- Ngay tầng dưới của mình có em trai nhà văn Tô Hoài đang ở đó cháu.