Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2014

Kiếp sau


Thức và Thùy Dung là đôi vợ chồng trẻ mới cưới, cuộc sống gắn bó rất mực yêu thương. Hàng xóm láng giềng ai cũng vui mừng cho hạnh phúc ấm êm của họ. Thức là giáo viên cấp hai xã Thanh Hoa, anh về xã nhà dạy học cũng bởi mối duyên nợ với quê hương. Vì ở đó có Dung,  người con gái xinh đẹp, nết na đang chờ đợi. Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông, đến khi Thức tốt nghiệp trường cao đẳng sư phạm tỉnh thì mới chính thức kết hôn. Từ đó Dung buôn bán ở chợ, sớm hôm tảo tần. Hai người như đôi chim câu đẹp lứa, tháng ngày ríu rít bên nhau.
Ngôi nhà của họ xinh xinh, bao quanh bởi vườn rau và cây ăn trái. Không chỉ bán hàng giỏi giang, mỗi khi rảnh rỗi Dung còn để công chăm sóc cho mảnh vườn nhỏ. Nó như một khu vườn địa đàng, nơi chứng kiến những tháng ngày hạnh phúc của chủ nhân. Bên vườn cây trái trĩu cành, khung cảnh ngôi nhà cũng luôn tràn ngập sắc hoa. Dung rất yêu thích hai cây Mẫu Đơn trồng trong bồn trước nhà. Cô thường xuyên chăm sóc để nó nở hoa sặc sỡ.
Bữa nay chủ nhật nên Thức không đi trường, Dung cũng nghỉ chợ một buổi để làm việc nhà. Khi công việc đã vãn, hai vợ chồng cùng ngồi bên cây hoa mẫu đơn trước thềm để trò chuyện và ngắm nhìn cảnh vật. Ngoài vườn, những luống cà trổ hoa tím biếc, giàn bí xanh đã ra những chùm trái dài buông thỏng. Trái cây lủng lẳng trên cành, đung đưa trong gió sớm. Họ cảm nhận khung cảnh giản dị và bình yên đó với tất cả niềm yêu thương. Bấy giờ hoa mẫu đơn đang nở những đóa đỏ chói, căng tràn nhựa sống. Dung đưa tay hái một bông hoa, âu yếm nhìn chồng rồi khẽ đọc hai câu thơ:
Tặng chàng một đoá mẫu đơn
Như tình em đó suối nguồn yêu thương
Bất ngờ và cảm động, Thức đón nhận bông hoa rồi ôm vợ vào lòng mà rằng:
- Anh hứa sẽ suốt đời ở bên em!
Hai người siết chặt tay nhau, khuôn mặt Dung lúc này đỏ lên vì hạnh phúc. Nắng đã bắt đầu lên cao, ngoài vườn lũ chim sâu đang chuyền cành ríu rít gọi bầy.
Bao kỷ niệm buồn vui đong đầy tâm hồn đôi vợ chồng trẻ. Cuộc sống êm đềm của họ cứ thế trôi đi, lúc vui sum họp, khi buồn chia xa. Mới đó mà thấm thoắt đã nửa năm trời.
o0o
Một ngày đầu tháng 9, buổi tối hôm đó Dung thủ thỉ với chồng:
- Mai là ngày giỗ bố em, từ sáng sớm em phải về bên ngoại để chuẩn bị mọi thứ.
Thức cầm tay vợ nói:
- Anh xin nghỉ dạy một bữa để đưa em về ngoại nhé.
- Không cần đâu. Anh cứ đi dạy, để em về một mình được rồi. Chiều em lại về thôi.
Thấy vậy Thức yên tâm mà không nói gì nữa, anh đi chuẩn bị đồ đoàn để sớm mai cho vợ khởi hành. Đường về bên ngoại không xa lắm, cũng chỉ độ chục cây số, nhưng phải qua bến đò nên có phần hơi cách lế.
Hôm sau, tiễn vợ xong Thức lại đi trường như mọi khi. Đến chiều mà vẫn chưa thấy Dung về, anh đã có ý ngóng đợi. Nghĩ rằng vợ mình lâu ngày về ngoại, bữa nay gặp gỡ mọi người nên có dịp trò chuyện, vả lại còn phải dọn dẹp mọi thứ nên về muộn. Trời đã xẩm tối, lúc này trống ngực anh đã bắt đầu đập liên hồi, linh cảm như có chuyện gì đó chẳng lành.
Có tiếng chó sủa gấp gáp ngoài cổng. Tưởng vợ về nên Thức vui mừng ra đón, chợt thấy cô cháu họ đang hốt hoảng từ ngoài cổng đi vào. Vừa nhìn thấy Thức cô đã mếu máo:
- Chú Thức ơi! Cô Dung bị nước cuốn trôi mất rồi!...
Rồi cô òa lên mà khóc nức nở. Qua tiếng kể ngắt quãng của cô, anh biết là Dung đã gặp tai nạn đắm đò. Nguyên nhân là thuyền chở đông người, chòng chành ra đến giữa dòng thì bị lật. Trên thuyền lúc ấy có mười mấy người, nhưng người ta chỉ cứu được có 5 người thôi, còn lại đều bị nước cuốn trôi. Bây giờ đang mùa mưa, nước sông cuồn cuộn nên việc tìm kiếm thi thể rất khó khăn. Cô nghe mọi người nói, trong số những người bị nước cuốn có Dung. Thức không còn tin vào tai mình nữa, anh lấy xe máy rồi lao thẳng ra bến đò như một người mất hồn.
Cả ngày hôm sau, Thức cùng mấy người nữa chia nhau tìm kiếm thi thể vợ trong vô vọng. Đến ngày thứ hai thì hay tin người ta vớt được xác Dung cách chỗ đắm đò độ 7 – 8 cây số xuôi về phía hạ nguồn. Nhận lại xác vợ, Thức vật vã khóc lóc thảm thiết. Nhìn cảnh tượng đó ai cũng đau lòng mà không kìm được nước mắt. Người bạn đời bấy lâu chung sống trong hạnh phúc, giờ đây đã bỏ anh mà ra đi vĩnh viễn, hỏi sao không khỏi đau lòng?
Rồi thời gian vẫn lặng lẽ trôi, cho dù người ta hạnh phúc hay khổ đau. Thời gian là người hàn gắn mọi vết thương hữu hiệu nhất, là đấng sáng tạo đầy quyền năng. Bởi vậy mà Thức cũng dần nguôi ngoai nỗi đau mất vợ, anh chấp nhận điều đó như một thực tế, và tìm lãng quên trong công việc dạy dỗ học trò.
o0o
Cách xã Thanh Hoa vài cây số theo đường chim bay, có một xã gọi là Phúc Hậu. Ở đó có đôi vợ chồng hiếm muộn, cưới nhau đã gần mười năm nay mà vẫn chưa có con. Cô vợ thường xuyên đi chùa, cầu xin trời phật ban cho đứa con để vui cửa vui nhà. Tuy chưa được như ý muốn, nhưng thành tâm của họ cũng động đến trời xanh.
Thế rồi ngày kia cô vợ đột nhiên có thai. Đến kỳ thì sinh hạ một bé gái kháu khỉnh, dễ thương lắm. Hai vợ chồng nâng niu như vàng như ngọc, nhân đó mới đặt tên con là Hồng Ngọc.
Hồng Ngọc lớn nhanh như thổi, lại xinh xắn lạ thường. Thấm thoắt cô bé đã được 5 tuổi. Một bữa Hồng Ngọc cứ ngồi khóc hoài, nằng nặc mà đòi về nhà mình, ai dỗ dành cũng không chịu nín cả.
 Bà mẹ dỗ:
- Hồng Ngọc ngoan nào! Rồi mẹ cho kẹo và đưa đi chơi nha...
Cô bé càng khóc to hơn và lắc đầu quầy quậy:
- Con không phải là Hồng Ngọc. Tên con là Thùy Dung cơ. Đây không phải là nhà của con, nhà con khác kia...
Mọi người cho đó là lời trẻ con nên cũng không nghĩ ngợi gì. Nhưng cô bé cứ liên tục khóc và đòi về nhà. Bí quá, bà mẹ đành phải hỏi:
- Vậy chứ nhà con ở đâu?...
- Nhà con ở xã Thanh Hoa, trước thềm có hai cây mẫu đơn đẹp lắm. Chồng con tên là Thức...
Ai nấy cùng nhìn nhau cười, đoán rằng cô bé vì bắt chước người lớn nên mới nói như vậy.
Không ngờ mấy hôm sau nữa Hồng Ngọc vẫn quấy khóc. Dỗ dành mãi không được, mọi người mới bàn nhau chiều theo ý cô bé xem sao. Chứ nhìn thấy Hồng Ngọc khóc nằng nặc thế này thì xót ruột lắm. Nghĩ vậy, mẹ cô bé mới hỏi:
- Bây giờ mẹ đưa con về nhà nhé. Con có biết đường không?
Cô bé liền nín khóc và gật đầu đồng ý. Thế rồi mẹ Hồng Ngọc bế cô trên tay, cùng mấy người nữa mà đi về phía xã Thanh Hoa. Mỗi khi đến ngã rẽ, mọi người đang chưa biết đi hướng nào, thì Hồng Ngọc lại chỉ tay: - “Đường này”.
Đi chừng được vài cây số thì Hồng Ngọc tụt xuống đất mà nói:
- Gần đến nhà con rồi...
Rồi cô bé lon ton chạy trước, mọi người vội tất tả đi theo. Hồng Ngọc chạy một mạch vào nhà Thức như là đã quen từ hồi nào vậy. Bà mẹ rất ngạc nhiên, vì chưa đưa bé đến đây chơi bao giờ cả.
Lúc này Thức đang ở nhà, nhìn thấy những người khách lạ thì ngỡ ngàng lắm. Mẹ cô bé chào Thức, ngượng ngùng nói:
- Xin lỗi anh! Bé con nhà tôi cứ đòi về nhà. Cháu nằng nặc cho rằng đây là nhà của nó trước đây...
Thức đang ngập ngừng thì một người khác tiến lên hỏi:
- Xin cho hỏi, có phải anh là Thức?...
Thức đáp:
- Vâng, đúng rồi. Tôi là Thức, dạy học ở trường gần đây.
Mẹ cô bé và mấy người nhìn nhau xác nhận, còn Thức thì không hiểu gì cả, nhưng anh cũng vui vẻ mà mời họ vào nhà.
 Mọi người vào nhà ngồi chơi, họ kể cho Thức nghe câu chuyện của Hồng Ngọc. Anh cười ra chiều cảm thông, cho rằng tính trẻ con là vậy, rồi khen mẹ cô bé cũng chịu khó chiều con. Từ nãy đến giờ Hồng Ngọc rất vui, cô bé tự nhiên như đang ở nhà mình vậy. Bé đi lại trong nhà như đã quen thuộc từ lâu, đến chỗ nào cũng dừng lại ngắm nghía một lúc như để nhớ về kỷ niệm xa xăm nào đó.
Chợt cô bé chạy thẳng vào buồng trong. Mọi người hốt hoảng vì không kịp ngăn cản, bất đắc dĩ mà đành phải theo vào. Họ thấy cô bé đứng nhìn lên cái gác xép, chỉ tay lên đó và nói:
- Váy cưới của con để trên này.
Ai nấy đều ngạc nhiên. Thấy vậy Thức hỏi cô bé:
- Vậy chứ váy cưới của con để ở đâu? Nó như thế nào?...
Không chút suy nghĩ, bé trả lời ngay:
- Váy cưới của con để trong cái rương, được gói lại bằng tấm vải xanh. Váy màu trắng, có thêu hình hai con chim Phượng trước ngực.
Lúc này khuôn mặt Thức tái nhợt. Anh nói với mọi người:
- Chỗ để váy cưới này chỉ có hai vợ chồng tôi biết. Nhưng cô ấy đã mất cách đây mấy năm rồi. Nay cô bé nhắc đến khiến tôi thấy xúc động. Cái rương ấy vẫn được khóa lâu nay. Bây giờ tôi sẽ mang xuống để mọi người cùng xem.
Rồi anh leo lên gác xép mà bê cái rương xuống. Đã lâu rồi không mở, bên trên phủ đầy những bụi, ổ khóa thì vẫn còn nằm nguyên vẹn. Thức đi tìm chìa khóa, vì đang xúc động nên một lúc sau anh mới tìm thấy trong một ngăn kéo. Mọi người cùng chú mục vào cái rương như bị thôi miên. Khi nó được mở ra, bên trong thấy để đầy những quần áo. Thức thò tay vào trong, lấy ra một bọc vải màu xanh và nói, giọng run run:
- Đây là váy cưới của vợ tôi ngày trước...
Rồi anh lần mở tấm vải. Bên trong là một chiếc váy cưới màu trắng. Thức cầm lên cho mọi người cùng xem, thì thấy phía trước ngực áo có thêu hình đôi chim Phượng rất đẹp. Bé Hồng Ngọc thấy chiếc váy thì reo lên:
- A! Váy của con đây rồi...
Rồi cô bé áp cái váy vào người mà rơm rớm nước mắt, trước ánh mắt  dường như hoảng loạn của mọi người. Trong khi người lớn đang ngơ ngác như mất hồn, bé lại chạy lon ton ra thềm và nói:
- Con ra thăm cây hoa mẫu đơn...
 Hồng Ngọc đứng lặng ngắm nhìn cây hoa Mẫu Đơn thật lâu. Thức và mọi người cũng đứng bên mà xem cô bé sẽ làm gì. Chợt Hồng Ngọc giơ tay hái một bông mẫu đơn đưa cho Thức, rồi đọc hai câu thơ:
Tặng chàng một đóa mẫu đơn
Như tình em đó suối nguồn yêu thương
Lần này thì Thức thực sự xúc động. Anh cúi xuống ôm chầm lấy bé Hồng Ngọc vào lòng mà khóc nức nở. Ai nấy lại được thêm một phen kinh ngạc.
Thức nói trong nước mắt:
- Cô bé này chính là linh hồn của vợ tôi. Những gì bé nói chỉ có hai vợ chồng tôi biết được. Không ngờ cô ấy lại đầu thai vào Hồng Ngọc. Chắc là linh hồn còn vướng vất, không nỡ rời xa tôi đó mà...
Nói rồi anh lại òa lên khóc, khiến cho mọi người phải xúm vào mà khuyên giải. Tuy vậy ai cũng cảm thấy kinh sợ trong lòng.
 Vẫn bế Hồng Ngọc trên tay, Thức hỏi mẹ cô bé:
- Vậy năm nay cháu mấy tuổi rồi chị?
Bà mẹ trả lời, nước mắt rơm rớm vì xúc động:
- Đến đầu tháng 9 này là cháu tròn 5 tuổi rồi đó.
Thức cúi đầu buồn bã:
- Đầu tháng 9 này, cũng đúng 5 năm kể từ ngày vợ tôi mất vì bị nước lũ cuốn trôi...
Một sự trùng hợp thật kỳ lạ. Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, họ như cảm nhận được cái không khí huyền bí linh thiêng đang hiện hữu trong lúc này.

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

Thiên Đường nói dối


Trong giao tiếp, nói dối một chút sẽ làm cho câu chuyện của bạn trở nên thi vị. Nhưng nếu trở thành thói quen, thì đó thực sự là một thảm họa. Hẳn ai cũng hiểu được điều này, vì người ta không thể sống trong mê cung lừa dối. Khi mà mọi thứ bị mất phương hướng, chúng ta sẽ không phân biệt được thế nào là đúng sai. Cho nên cần phải có sự hiện hữu của chân lý và sự thật. Niềm tin là nền tảng vững chắc cho mọi mối quan hệ xã hội. Con người không thể xây dựng các giá trị nhân bản dựa trên sự dối trá.
Thế giới có một ngày gọi là “Cá tháng tư”, nhằm vào 1 tháng 4 hằng năm. Hay còn gọi là ngày nói dối, với ý nghĩa đây là ngày hội vui vẻ, tinh nghịch cho những người có tính hài hước. Trong ngày này người ta tung nhiều tin đồn không đúng sự thật, nhằm tạo niềm vui hoặc trêu chọc ai đó. Họ được phép làm điều này trong cả ngày 1 tháng 4, bước sang ngày khác thì mọi sự trở lại bình thường.
Nói dối là rất kinh khủng, bởi nó khiến người ta phải quay cuồng trong giả tạo. Tất cả mọi thứ sẽ bị rối tung rối mù, xã hội đảo lộn hết cả. Cho nên cả năm chỉ có một ngày nói dối là đã quá sức chịu đựng rồi. Một số nước còn quy định chỉ nói dối trong nửa ngày mà thôi (tức là đến 12 giờ trưa ngày 1 tháng 4 thì kết thúc), như các nước: Anh, Canada, New Zealand...; Sở dĩ như vậy vì người dân những nước này bản tính nghiêm túc, thích tôn trọng sự thật.
Chuyện thế giới là vậy, một năm có một ngày nói dối. Ấy nhưng người Việt Nam có hẳn 365 ngày nói dối trong một năm, cứ liên tục như vậy đã 85 năm rồi. Thật là kinh khủng và ngoài sức tưởng tượng, nhưng đó là sự thật chứ không hề bịa đặt chút nào. Vì tôi viết bài này không nhằm vào ngày cá tháng tư. Sở dĩ nói là 85 năm, vì kể từ khi đảng Cộng sản ra đời. Từ đó, người dân Việt Nam không còn biết đến khái niệm nói thật là gì cả.
Tại sao lại như vậy? Nguyên do là tại cái “Chủ nghĩa Cộng sản” hoang tưởng. Đây là một học thuyết ngược đời, không thể áp dụng trên thực tế. Nhưng người ta lại bắt toàn dân phải nghe theo. Không ai dám phản đối, vì nếu làm như vậy thì sẽ bị ngồi tù hoặc giết hại. Thành ra người dân thấy sai mà không phản đối, biết là phi lý nhưng không dám nói. Sự thật thì phải che dấu, nhưng lại toàn nói những điều trái với lòng mình mà thôi. Lâu dần họ trở thành những người nói dối xuất sắc nhất thế giới. Luôn có một cái máy chém treo lơ lửng trên đầu, ai nói thật thì bị nó chém chết. Do vậy mà người ta phải vận dụng hết trí thông minh để phục vụ cho việc nói dối. Rồi rèn luyện đến mức trở thành kỹ năng và phản xạ tự nhiên.
Cái sự nói dối này không chỉ ở người dân, mà toàn xã hội như vậy cả. Bộ máy cầm quyền là những người đi tiên phong. Họ nói dối như cái máy, không cần phải biết ngượng, vì xung quanh ai cũng thế. Chỉ cần trích dẫn câu khẩu hiệu của đảng là rõ ngay: “Nhà nước của dân, do dân vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”. Họ có nói dối hay không, và đến mức nào? Điều này dân tộc Việt Nam và thế giới đều biết cả rồi. Người dân thấm thía hơn ai hết, những 85 năm kia mà. Vì anh có tài đến mấy, cũng không thể lừa dối tất cả mọi người trong mọi lúc được.
Để biết một người có nói dối hay không thì người ta phải dựa vào những người nói thật xung quanh. Nhưng tất cả đều nói dối thì phải làm thế nào? Có lẽ là vô kế khả thi đối với một xã hội như vậy.
Hồi trẻ tôi cũng hào hứng với ngày cá tháng tư lắm, vì nó vui và phù hợp với tâm lý lứa tuổi. Nhưng rồi bổng giật mình nhận ra rằng, những lời nói dối trong ngày này không có tác dụng gì đối với người Việt Nam.  Thì ra quanh năm sống trong dối trá, nay họ đã chán rồi. Chỉ có những lời nói thật mới có thể gây được bất ngờ thú vị mà thôi. Khi nghe những lời nói thật, họ sửng sốt mỉm cười, nhưng bao giờ cũng đe một câu:  “Nói như thế là phản động, coi chừng công an  nó bắt giam đấy!”.
Bởi vậy mà tôi có một đề nghị: Đối với người Việt Nam hiện nay thì ngày “Cá tháng tư” phải đổi thành ngày “Nói thật” mới đúng.
Ở những quốc gia khác, khi ai đó nói dối thì bị người ta khinh bỉ và giận dữ lắm. Việt Nam thì lại coi đó là sự thường, thậm chí còn khen là thông minh và hợp thời vụ. Bởi vậy mà không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là mảnh đất thiên đường của những người nói dối. Dĩ nhiên là thiên đường của dối trá thì cũng như lâu đài cát, nó không thể hiện hữu bền lâu và hữu dụng cho con người được.

Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014

Mỹ Nhân áo trắng


Trời nhập nhoạng tối, con đường trước ngõ lúc này chỉ là một dải nhờ nhờ, không còn nom rõ nữa. Trên mấy cành ổi trong vườn, lũ đom đóm chấp chới lập lòe. Văn Lang mang cái ghế tựa ra ngoài sân, ngồi dưới giàn hoa thiên lý để hóng mát. Gớm! Đang mùa hè nóng bức thế này mà lại mất điện. Ngoài trời gió thổi nhè nhẹ, không khí dễ chịu hơn khi ở trong nhà. Ngôi nhà Văn Lang ở cuối xóm, đối diện là cánh đồng lúa xanh mướt, mênh mông. Dọc theo bờ mương, là con đường liên xã quanh co chạy trước nhà. Lúc này trời đã tối hẳn, cảnh vật chìm trong bóng tối, nhưng anh vẫn chưa thắp nến lên, vì cứ để thế cho mát. Năm nay Văn Lang đã ngoài 30 tuổi, người ta vẫn thấy anh ở vậy một mình mà chưa lập gia đình. Song thân đều đã mất cách đây mấy năm. Lẽ thường, anh phải tìm người để nâng khăn sửa túi và chăm lo gia đạo.

 Gió nồm từ cánh đồng thổi vào mát rượi, mơn man da thịt.  Cả ngày nóng bức, giờ này khí hậu mát mẻ khiến dễ sinh buồn ngủ. Văn Lang ngã lưng vào ghế mà lim dim mắt. Chợt có cảm giác như một luồng điện chạy qua người, làm anh choàng tỉnh. Dường như có một hình ảnh mờ ảo hiện ra trước mặt. Anh căng mắt nhìn kỹ thì thấy bóng một người mặc áo trắng từ ngoài ngõ đang đi vào. Cái bóng đó cứ lớn và rõ dần, khi đến gần thì hóa ra là một người con gái.

 Anh đang bâng khuâng thì người đó đã cất lời, giọng nhẹ nhàng thánh thót:

- Chào anh. Anh đang ngồi hóng mát?...

Văn Lang líu ríu:

- Cô...là?...

- Em đi làm đồng về qua đây. Vì khát quá nên vào xin anh chút nước uống. Nhà em ở xã bên...

À! Thì ra một cô gái ghé vào xin nước uống. Văn lang đứng dậy rồi nói:

- Cô chờ tôi thắp nến đã nhé. Nhà đang bị mất điện...

Rồi anh đi vào nhà để thắp nến. Ngọn lửa lóe lên bập bùng, bấy giờ mới có thể nhìn rõ mọi vật. Trước mắt Văn Lang lúc này là một cô gái có vẻ đẹp mê hồn, dáng điệu thướt tha, sóng mắt long lanh. Văn Lang ngỡ ngàng như người mất hồn, rót nước mà tràn cả ra ngoài. Đặt cốc nước xuống bàn, anh lắp bắp:

- Mời cô ngồi..uống...nước.

Cô gái nhoẻn miệng cười rồi nhẹ nhàng ngồi xuống, nụ cười như đóa hồng hé nở. Ngước mắt nhìn Văn Lang, cô e thẹn cất lời:

- Tên em là Kim Hồng...

Trong ánh nến mờ tỏ, nhan sắc của Kim Hồng khiến hoa nhường nguyệt thẹn. Dáng điệu lả lướt mảnh mai, khuôn mặt thanh tú như tiên giáng trần vậy. Vốn là người khó tính với đàn bà con gái, nhưng lúc này Văn Lang như đang lạc vào cõi mê tình ái. Chàng nhìn Kim Hồng đăm đăm mà không còn biết tỏ vẻ ngượng ngùng gì cả. Lúc sau mới thốt lên:

- Nếu là người trong vùng thì cô cũng ít đi ra ngoài. Vì tôi chưa bao giờ gặp ai xinh đẹp như vậy cả?...

Kim Hồng cúi mặt e thẹn, như đón nhận lời khen tặng từ anh. Cô lại nhoẻn miệng cười khiến anh như ngây ngất trong men say. Khi cô cười, anh mới để ý bên khóe miệng có một nốt ruồi đỏ màu son, như càng làm tăng thêm vẻ duyên dáng.

Thấy Văn Lang nhìn mình ngây ngất, Kim Hồng ngượng ngùng đứng lên mà rằng:

- Cảm ơn anh đã tiếp đón. Bây giờ em xin phép về kẻo bố mẹ đang mong...

Lúc này Văn Lang mới sực tỉnh, nói như mộng du:

- Không có gì! Khi nào rảnh lại mời cô ghé chơi...

- Dạ!...

Nói rồi Kim Hồng liếc mắt đưa tình cho anh mà nhẹ nhàng quay gót trở ra. Văn Lang ngơ ngẩn, nhìn theo bóng cô cho đến khi khuất hẳn mới thôi. Tiếng Chó mấy nhà hàng xóm lúc này thi nhau sủa loạn xạ. Kim Hồng vừa đi ra khỏi nhà một lúc thì đột nhiên lại có điện, căn nhà sáng bừng cả lên. 

o0o

Từ bữa đó Văn Lang ngày nào cũng tương tư đến người đẹp, và cho rằng cuộc gặp gỡ đó như là một mối nhân duyên mà số phận đã dành cho chàng. Người đâu mà xinh đẹp lạ thường, ăn nói lại nhẹ nhàng có duyên. Tuy không nói với ai, nhưng trong lòng anh lúc nào cũng nhớ thương, hy vọng cô lại ghé thăm. Đã ba hôm qua đi kể từ buổi đầu hội ngộ, vẫn không thấy Kim Hồng đến chơi. Anh đã có ý ngóng trông, vì lúc trước cô đã hứa khi chia tay.

Rồi một tuần trôi qua, vẫn không thấy bóng dáng Kim Hồng đâu. Văn Lang thẫn thờ như người mất hồn vậy, trong lòng anh lúc này không có gì khác ngoài hình bóng của cô. Anh đi đứng, ăn ngồi không yên, dáng điệu thướt tha với nụ cười như đóa hồng kia vẫn không khi nào rời tâm trí.

 Bữa nay, vì nhớ Kim Hồng quá mà trời vừa tối thì anh lại mang ghế ra ngoài sân ngồi, để nhớ lại cái giây phút ban đầu. Khi vừa thiu thiu ngủ thì chợt nghe tiếng chó sủa râm ran, khiến anh tỉnh giấc. Cái gì đây? Anh đang tỉnh hay là mơ? Cái bóng dáng thướt tha hôm nọ lại từ ngoài cổng đi vào, màu áo trắng rõ dần. Khi đến gần thì chàng nhận ngay ra Kim Hồng. Rõ ràng đây không phải là mơ, cô đang đứng trước mặt anh, rạng rỡ và xinh tươi. Không dấu được niềm hạnh phúc, anh vội đứng dậy mà đón cô. Lần này thì anh nói trước:

- Hôm nay cô lại đi làm qua. Hay là?...

Kim Hồng nghiêng đầu ngượng ngùng:

- Dạ! Em đi làm về, nhân tiện ghé vào thăm anh...

     Nhờ ánh điện từ trong nhà chiếu hắt ra, khiến anh nhìn rõ khuôn mặt cô đang đỏ lên vì cảm xúc. Thật là “Tình trong như đã, mặt ngoài còn e”. Cái tâm trạng đó lúc này đúng với cả hai người. Văn Lang chợt thấy thái độ vội vàng của mình vừa nãy là hấp tấp. Anh mỉm cười chữa thẹn:

- Mời em vào nhà xơi nước.

Kim Hồng ngượng ngùng theo anh vào trong nhà. Cô lại ngồi đúng vào cái chỗ mà bữa trước đã ngồi, tay mân mê tà áo. Bất chợt cả hai ngước lên cùng nhìn nhau, rồi lại thẹn thùng cúi đầu xuống. Có lẽ họ cũng cảm nhận được cái tình cảm mà người kia đang dành cho mình.

Nghĩ cũng cần biết về thân thế của cô, anh hỏi:

- Em nói ở xã bên. Vậy chứ nhà ở đâu? Song thân có còn khỏe không?

- Dạ! Bố mẹ em đã già, các cụ vẫn khỏe. Anh đi hết con đường trước mặt này, đến một ngã ba, rẽ phải chừng vài trăm mét là tới nhà. Nhà em ở dưới một gốc đa to, bên cạnh có cái miếu thổ địa...

Cổ nhân có câu “Xa tận chân trời, gần ngay trước mắt”. Thì ra nhà nàng cũng ở xã bên chứ đâu. Gần như thế mà bấy lâu anh không hề biết, rõ là khi nào có duyên thì người ta mới gặp được nhau. Rồi hai người lại trò chuyện thêm một hồi, dường như ý hợp tâm đầu lắm, đầu mày cuối mắt đưa duyên. Chừng ngồi chơi đã lâu, Kim Hồng đứng dậy mà từ biệt để ra về. Văn Lang cầm lấy tay cô mà nói:

- Mong ông tơ bà nguyệt xe duyên, để chúng mình được thành đôi!...

Kim Hồng cúi đầu e lệ mà không nói gì. Cứ thế hai người đứng nhìn nhau một hồi lâu, ra chiều bịn rịn lắm. Nhưng rồi họ cũng phải chia tay để cô còn ra về.

Từ đó cứ vài hôm thì Kim Hồng lại ghé thăm Văn Lang. Hai người lúc này đã có tình cảm mặn nồng, cùng thề non hẹn biển. Văn Lang thấy trong lòng hạnh phúc lắm. Anh thầm cảm tạ ông trời đã đưa đến cho mình một người con gái như ý, đằm thắm dịu dàng, tâm đầu ý hợp. Anh tự nhủ, khi nào có dịp sẽ tìm đến nhà để mà thăm hỏi và thưa chuyện với cha mẹ cô.  

Cũng có đôi khi Văn Lang thắc mắc về người yêu của mình. Từ lúc quen nhau, tuy cô mặc nhiều kiểu áo, nhưng chỉ thấy duy nhất một màu trắng mà thôi. Có lẽ nàng yêu thích màu này chăng? Kể cũng phải, vì khi Kim Hồng mặc đồ màu trắng thì trông càng trẻ trung quyến rũ hơn. Lần nào cô đến thăm anh thì cũng đều vào buổi tối cả. Dường như Kim Hồng thường đi làm đồng giờ này mới về. Điều này cũng hợp lý, vì nàng là cô gái chịu thương chịu khó mà. Có lần Kim Hồng đi trở ra, anh nhìn theo đến đầu ngõ thì thấy bóng cô tự nhiên mất hút. Chắc là vì buổi tối, nên anh không nhìn thấy rõ. Khi mới yêu, người ta thường có nhu cầu tìm hiểu về người mình thương, âu đó cũng là lẽ thường.

Những ngày này Văn Lang sống trong tâm trạng hạnh phúc, lòng chất chứa bao hy vọng và chờ mong. Đã một tuần trôi qua kể từ lần gặp cuối mà vẫn không thấy Kim Hồng ghé thăm. Lại không có chút tin tức gì về cô cả, bởi vậy mà lòng anh như lửa đốt! Không hiểu tình cảm của cô đối với anh giờ này thế nào? Hay lại gặp chuyện gì chẳng lành chăng? Cứ tối tối, anh lại nhìn ra cổng để ngóng trông, nhưng bóng dáng áo trắng vẫn biệt tăm. Anh dự định nếu vài hôm nữa mà cô vẫn không đến, thì sẽ tìm đến nhà để hỏi thăm.

Tối nay Văn Lang lại tựa cửa chờ mong. Đến khuya thì mới lên giường nằm, trằn trọc mãi mà không sao ngủ được. Rồi vì buồn và mệt mà anh ngủ thiếp đi. Lúc này Kim Hồng hiện lên báo mộng cho chàng. Trong mơ cô ấy khóc lóc mà rằng:

- Thảm thương thân em quá! Ba hôm trước đây, khi em vừa ra khỏi nhà thì gặp một đám ác ôn. Chúng dùng gậy đánh em đến chết rồi bỏ đi. Nếu anh thương em thì hãy tìm đến mà chôn cất, để hồn em được siêu thoát. Anh ơi!...

Nói rồi cô che mặt mà khóc thảm thiết. Văn Lang giật mình tỉnh dậy, mồ hôi ướt đẫm cả người. Anh bật đèn ngồi vào bàn, cứ suy nghĩ về giấc mơ vừa rồi. Kim Hồng báo mộng cho anh là cô đã bị bọn người ác đánh chết. Anh thảng thốt mà không biết rõ thực hư, lúc này lòng như lửa đốt. Từ đó Văn Lang không ngủ nữa mà cứ ngồi chờ cho trời sáng. Anh quyết tâm sáng mai sẽ tìm đến nhà Kim Hồng, nơi cô đã báo mộng.

Sáng hôm sau Văn Lang lên đường như dự định. Nhớ lời người yêu đã nói trước đây, anh đi hết con đường trước nhà mình, đến một ngã ba. Từ ngã ba lại rẽ phải khoảng hai trăm mét nửa. Quả thực, ở đó có một cây đa cổ thụ sum suê, bên cạnh là cái miếu thổ địa. Anh để ý tìm nhà thì không thấy, vì quanh đây không có ngôi nhà nào cả. Anh lại nhớ lời Kim Hồng: “Nhà em ở dưới gốc cây đa cổ thụ”. Quay nhìn xuống gốc cây thì chỉ thấy có một cái hang Chuột to. Văn Lang bắt đầu tìm kỹ, chợt thấy cách hang khoảng vài bước chân có một con Chuột bạch nằm chết. Chàng cúi xuống nhìn cho rõ hơn, rõ ràng là một con Chuột cái, bên miệng của nó có một chấm đỏ màu son. Bất giác Văn Lang rơi lệ mà nhớ đến tình nghĩa mấy lâu nay với Kim Hồng. Đây đúng Là Kim Hồng rồi, đêm qua cô đã hiện về báo mộng cho anh.

Vừa lúc ấy có bác nông dân đi làm đồng qua. Thấy Văn Lang khóc thương con Chuột Bạch thì lấy làm lạ lắm., bác mới dừng lại mà nói:

- Ba hôm trước, tôi đi làm qua đây thì thấy có mấy đứa trẻ chăn trâu đập chết con Chuột Bạch này, khi nó vừa chạy từ trong hang ra...

Bác chỉ tay vào cái hang chuột dưới gốc cây Đa để chứng minh cho lời nói của mình, rồi lại vác cuốc mà tất tả bước đi.

Văn Lang vô cùng cảm thương. Anh ôm xác con Chuột Bạch vào lòng mà âu yếm như đang nói chuyện với Kim Hồng vậy. Đoạn tìm một chỗ đất bằng phẳng cạnh cái miếu thổ địa để mà chôn cất cẩn thận.

Mấy hôm nay người ta không thấy Văn Lang ra khỏi nhà, những người hàng xóm nói là anh bị ốm. Người ta đến thăm thì thấy anh đang nằm khóc lóc thương cảm, như vừa mất đi một người thân yêu vậy.

 Chừng một tháng sau thì Văn Lang mới khỏe hẳn lại. Hôm nay anh gượng dậy mà thơ thẩn ngồi nhìn ra vườn. Quả là một buổi sáng đẹp trời, lũ chim sâu đang chuyền cành ríu rít, nhưng chúng nào đâu có hiểu được tâm trạng của anh lúc này. Những ngày qua với anh, thực như một giấc mơ trần thế. Vẫn quanh quất đâu đây dáng đi, giọng nói của Kim Hồng. Bóng hình mỹ nhân áo trắng cùng tình yêu thoảng qua như cơn gió, nhẹ nhàng những quyến rũ đắm say.  

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

Dung hòa quyền lợi


Cuộc sống là sự tương tác giữa các cá thể với nhau, điều mà chúng ta vẫn gọi  là xã hội. Mọi tư tưởng triết học đều cố gắng giải quyết vấn đề này theo cách của riêng mình. Để xã hội được bình ổn và phồn vinh, phải có sự dung hòa giữa các tầng lớp và cá nhân. Điều đó được thực hiện ở mức độ nào, với một phương thức ra sao, thì đây là vấn đề khiến chúng ta quan tâm.
Loài người đang sống ở thế kỷ 21, thời đại của tự do dân chủ. Vì vậy mà quan điểm của chúng ta cũng dựa trên nền tảng đó, mục tiêu là hướng tới sự tự do của con người. Cốt lõi của một xã hội dân chủ là tự do, bình đẳng. Các cuộc cách mạng xã hội giải phóng con người thoát khỏi xiềng xích nô lệ, nhưng lại ràng buộc họ với nhau bằng những thỏa hiệp tự nguyện. Sở dĩ như vậy là để quyền lợi của cá nhân được tôn trọng và bảo đảm. Không để cho cá thể này lấn át cá thể khác, dù là vô tình hay hữu ý. Nhưng cũng phải làm sao để tự do không bị vi phạm, mà còn không ngừng thăng hoa phát triển. Muốn như vậy thì con người luôn phải tôn trọng cái khế ước xã hội mà mình đã tham gia ký kết (luật pháp).
Tự do có nghĩa là sự chấp nhận và tôn trọng lẫn nhau, cùng hành xử dựa trên những nguyên tắc chung. Muốn có tự do thì phải tôn trọng tự do của cá nhân khác, nếu vi phạm điều đó thì cũng coi như đánh mất đi tự do của bản thân. Xã hội con người luôn phải đối mặt với những vấn đề tồn tại khách quan, đó là quyền lợi. Đây là nguồn gốc của mọi sự va chạm và phát sinh mâu thuẫn. Vì vậy mà khi nói đến vấn đề cân bằng quan hệ con người trong xã hội, cũng có nghĩa là phải dung hòa những quyền lợi căn bản đó.
Đối với quyền con người, thì phải bình đẳng với nhau, không có sự phân biệt kỳ thị. Dĩ nhiên những quyền này được đảm bảo bằng luật pháp, vì đó là ý chí chung của cộng đồng. Ngày nay, hầu hết luật pháp các quốc gia đều ghi nhận sự bình đẳng về quyền giữa các cá nhân trong xã hội, không phân biệt sắc tộc hay tín ngưỡng. Để những quy định đó được bảo đảm trên thực tế, thì phải có thể chế chính trị dân chủ. Vì chỉ trong một xã hội dân chủ, người dân mới có thể giám sát được pháp luật. Những phát sinh mâu thuẫn về quyền sẽ được giải quyết thấu đáo, trung thực và khách quan bởi một hệ thống tư pháp độc lập. Đó là sự mâu thuẫn giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với nhà nước và các tổ chức, giữa các tổ chức với nhau.
Lợi ích là những gì mà cá nhân có được thông qua lao động và các mối quan hệ. Luôn có những công việc, ngành nghề khác nhau cùng tồn tại trong một môi trường xã hội. Vì vậy mà vấn đề thu nhập, hưởng lợi cũng không đồng đều. Từ đó mà hình thành nên những tầng lớp xã hội khác nhau. Lợi ích kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị cũng vì thế mà có sự khác biệt. Vấn đề là ở chỗ, những chênh lệch lợi ích này ở mức độ hợp lý và chấp nhận được. Nhìn bề ngoài, các lợi ích không bao giờ có thể cân bằng và giống nhau. Vì nó còn tuỳ thuộc vào nỗ lực cá nhân và cấp độ công việc. Nếu tất cả các lợi ích đều ngang bằng thì đó mới chính là bất công xã hội, do người ta thực hiện sự cào bằng. Như thế là đã triệt tiêu đi sự nỗ lực và phấn đấu của con người.
Trong một xã hội, lợi ích của mọi cá nhân và tổ chức đều phải được tôn trọng. Những lợi ích phát sinh mà tổn hại đến cá nhân hay tổ chức khác đều được coi là bất hợp pháp và vi phạm quyền con người.
Quyền và lợi ích của con người luôn gắn bó hữu cơ với nhau. Cần có sự dung hòa quyền lợi để đảm bảo công bằng xã hội. Đó là mấu chốt của bình đẳng, hạnh phúc và phồn vinh. Là sự thử thách của cái tôi cá nhân trong cộng đồng. Con người văn minh hiểu rằng, để đạt được hạnh phúc trọn vẹn,  bản thân cá nhân phải hy sinh một số lợi ích nào đó. Để cái tôi cá nhân không bành trướng và làm ảnh hưởng đến cộng đồng. Quyền và lợi ích của cá nhân ngày càng phát triển, nhưng không vì thế mà ảnh hưởng và vi phạm đến cá nhân khác. Đây chính là kết cấu của một xã hội dân chủ tiến bộ, điều mà mọi dân tộc đều hướng tới. Để làm được điều đó thì phải dựa trên nguyên tắc thỏa thuận, và để duy trì được nó cũng không có cách nào khác ngoài sự tự nguyện của con người.
Tồn tại dựa trên sự phát triển hài hòa, đó là trạng thái cân bằng lý tưởng của mọi mối quan hệ. Trạng thái đó giúp duy trì hòa bình, thịnh vượng và các giá trị tự do. Căn nguyên của mọi xã hội dân chủ đều ở chỗ dung hòa quyền lợi. Đây cũng là nguyên tắc nền tảng để xây dựng một xã hội tiến bộ. Tóm lại, sự “Dung hoà quyền lợi” chính là thước đo hạnh phúc. Vì người ta càng làm tốt điều này thì công bằng xã hội được nêu cao, tự do và hạnh phúc ngày càng đảm bảo.