Thứ Tư, 9 tháng 3, 2016

Mùa Xuân Khát Vọng (Chương I)


 CHÂN TRỜI RỘNG MỞ

Ngôi trường cấp ba nơi chúng tôi theo học nằm bên tỉnh lộ 538, lúc nào cũng rợp mát bóng cây. Ở đây, hè về tím ngát bằng lăng, những cành phượng hồng đung đưa làm xốn xang bao tâm hồn tươi trẻ, gợi nhớ lúc chia xa. Phía trước có hồ sen nhỏ, hương thơm thoảng đưa, khiến cho không khí giải lao giữa hai giờ học luôn trở nên thư thái, mát dịu. Mỗi khi tan học, đám học sinh lại túa ra hai dãy nhà để xe trước sân trường, rồi tỏa đi các hướng như ong vỡ tổ. Hằng ngày, tôi cùng đám bạn phải đạp xe một quãng đường chừng năm cây số để đến trường. Vì học chuyên toán, nên lớp chỉ có mươi bạn nữ, còn lại phần lớn là nam sinh như tôi. Việc học hành rất vất vả, ngoài những buổi chính khóa, còn phải học thêm rất nhiều. Có thể nói, chúng tôi may mắn được tiếp thu những kiến thức tốt hơn so với bạn bè cùng khối. Đơn giản vì nhà trường luôn giành ưu tiên cho những học sinh giỏi nhất.

     Cuối năm 1991, Liên Bang Xô Viết tan rã, đánh dấu sự kết thúc chiến tranh lạnh. Việt Nam lúc đó cũng là một nước nằm trong khối Cộng Sản, vì vậy mà đón nhận sự kiện này với một trạng thái hoang mang cực độ. Sự phụ thuộc về kinh tế, chính trị và cả giáo dục đối với Liên Xô coi như đã chấm dứt. Tuy nhiên với thông tin hạn hẹp thời đó, đám học sinh trung học như chúng tôi chẳng thể biết và quan tâm được gì nhiều. Duy chỉ có một thay đổi nhỏ nhắc nhở đến sự kiện này, ấy là người ta đã ngừng dạy môn tiếng Nga và bắt đầu chuyển sang dạy tiếng Anh khi tôi đang học lớp mười một (năm 1993). Điều này cho thấy sự chuyển hướng trong trong công tác giáo dục. Hồi đó giáo viên Anh văn còn rất hiếm ở một tỉnh lẻ, những thầy cô dạy tiếng Nga trước đây, bây giờ phải đi học bổ túc để có thể tiếp tục công việc. Được nghỉ học môn tiếng Nga, chúng tôi phấn chấn lắm, vì có nhiều đứa học hơn một năm trời mà chỉ nói được mỗi câu “Здравствуйте” (Xin chào). Thế là thoát được cái thứ ngôn ngữ khó học này, thoát được những buổi lên bảng đứng như trời trồng, gãi đầu gãi tai để mà trả lời câu hỏi.

Mái trường trung học như tổ ấm thân thương, nhưng rồi những cánh chim cũng đến lúc phải tung cánh bay xa. Mùa hè 1994, cũng như bao học sinh vừa tốt nghiệp cấp ba khác, tôi - một chàng trai xứ Nghệ vừa tròn mười chín tuổi - bước vào kỳ thi đại học. Vậy là tạm biệt mái trường yêu dấu, tạm biệt những xao xuyến thủa ban đầu.

 Tôi đăng ký thi ba trường đại học, gồm có Sư phạm Vinh, Luật Hà Nội, Tổng Hợp Hà Nội. Theo lịch thì phải thi hai trường ở Hà Nội trước. Từ nhỏ tôi đã là học sinh giỏi toán, lên cấp ba thì học lớp chuyên toán (khối A), nhưng bây giờ lại quyết định thi đại học khối C (gồm các môn: Văn, Sử, Địa). Sự kiện hy hữu này làm chấn động toàn trường lúc đó, và còn dư âm một thời gian dài đối với đám bạn đại học của tôi sau này nữa.

Những ngày này, Hà Nội nắng như đổ lửa, nhà cửa ken sát, người xe tấp nập, khiến không khỏi có cái cảm giác bức bối, ngột ngạt. Tuy nhiên, sự lo lắng để tập trung cho các môn thi khiến tôi tạm quên đi những gì đang diễn ra xung quanh. Nhờ có anh trai đang làm việc ở Hà Nội đưa đi thi, vì vậy tôi có thể dành thời gian quý báu để ôn bài và vượt qua những bỡ ngỡ ban đầu. Tôi phải chịu áp lực từ chính bản thân mình, vì đây là lần đầu tiên làm bài thi với các môn khối C. Điều thú vị là trong suốt những ngày thi đại học ở Hà Nội, tôi gặp Phương - một cô bạn đồng hương xứ nghệ – luôn ngồi cùng phòng với mình. Phương cao lớn và khỏe mạnh, có nước da ngăm đen của người miền biển. Sau mỗi môn thi, chúng tôi thường đứng ở hành lang để trao đổi với nhau về bài làm. Cô bày tỏ ý định muốn được trở thành một nữ công an. Về phần mình, tôi cũng nghĩ rằng cô phù hợp với sự lựa chọn đó, cả ở tính cách lẫn vóc dáng. Trường cuối cùng Phương thi là đại học an ninh, còn tôi thì Đại học Sư Phạm Vinh, vì vậy mà chúng tôi tạm chia tay nhau. Kết thúc hai trường ở Hà Nội với kết quả làm bài tương đối tốt, tôi phải về Vinh ngay vì ngày thi cũng đã cận kề.

Thành phố Vinh mang dáng dấp của một đô thị tỉnh lẻ, đa phần là những dãy nhà tập thể cũ kỹ, rất ít công trình được xây mới. Đường phố ở đây rộng rãi, giao thông ít bừa bộn như Hà Nội, một phần cũng do dân số ổn định hơn. Trường Đại học Sư Phạm Vinh nằm ngay bên quốc lộ 1, gần cầu Bến Thủy. Khu tập thể ở phía sau trường, tôi trọ ở đó vài hôm để hoàn thành nốt công việc thi cử của mình.

 Ngày thi đầu tiên trôi qua, bài làm cũng tạm ổn, vậy là chỉ còn một môn cuối vào sáng ngày mai nữa là kết thúc đợt thi đại học đầy cam go và vất vả. Tối hôm đó tôi ngồi ôn bài, bàn bên cạnh có cô con gái chủ nhà cũng đang học. Ban ngày, lúc nói chuyện được biết tên cô là Mai, cũng thi đại học Sư Phạm Vinh. Bố Mai dạy trường này, nên cô có tâm lý thoải mái, vì đã quen với môi trường hơn. Có lẽ cô đã học bài kỹ càng, cho nên cứ nhí nhảnh kể chuyện thi ban ngày cho mấy người trong nhà nghe, thi thoảng lại cười phá lên vui vẻ. Mai có mái tóc dài, đôi mắt to tròn màu hạt dẻ, khuôn mặt xinh xắn tình cảm. Lúc này tuy vẫn chăm chú ôn bài, nhưng câu chuyện của Mai cũng có làm tôi phân tâm đôi chút. Còn cô thì vừa kể chuyện, thi thoảng lại liếc sang phía tôi như thăm dò. Chỉ có vài ngày gặp gỡ và quen biết, nhưng có lẽ giữa hai chúng tôi đã có những tình cảm tốt đẹp về nhau.

o0o

Kết thúc đợt thi đại học, tôi trở về nhà để nghỉ ngơi và chờ đợi kết quả. Thời gian này rảnh rỗi, chợt nhớ đến Phương - cô bạn đi thi với mình ở Hà Nội hôm nào - tôi quyết định tìm đến nhà để thăm. Phương ở huyện bên, cách chỗ tôi gần hai mươi cây số. Sau một lúc hỏi thăm, cũng tìm được đến nơi. Nhà cô gần biển, người dân ở đây chủ yếu làm nghề đánh bắt cá. Những gia đình xung quanh đều để dụng cụ đi biển trước sân, những lu, những vại làm nước mắm la liệt.

Thấy tôi vừa dựng xe ở sân, Phương vồn vã chạy từ trong nhà ra, nét mặt chưa hết ngạc nhiên:

- Làm sao mà Phú tìm được nhà?

Tôi mỉm cười:

- Cứ đi sẽ đến, cứ tìm thì sẽ thấy!...

Tiếng cười tán thưởng của Phương cất lên lanh lảnh, rồi cô nhanh nhảu mời khách vào nhà.

Cả hai chúng tôi cùng ngồi vào bàn khách. Phương vừa rót nước, vừa nói:

- Báo cho bạn một tin vui nhé! Phương đã đỗ trường đại học an ninh rồi đấy!

- Vậy Phương sẽ theo học trường này chứ? – Tôi hỏi.

- Dĩ nhiên là vậy rồi! Đây là nguyện vọng của Phương mà – Phương mím môi làm điệu, nét mặt lộ vẻ tự tin.

Tôi vui mừng:

- Xin được chúc mừng Phương!

- Cảm ơn Phú! – Phương e lệ, tay mân mê vạt áo.

Chúng tôi đang trò chuyện thì mẹ Phương từ phía sau nhà đi ra, thấy tôi bà mỉm cười và gật đầu chào. Phương giới thiệu tôi với mẹ, bà bảo tôi cứ ngồi chơi rồi vội vã đi ra sân làm việc. Phương nhìn theo mẹ, ánh mắt như mơ màng:

- Mẹ em lại phải làm cá cho kịp thời tiết đấy! Người miền biển mà, lúc nào cũng tất bật!

Rồi như sực nhớ ra, cô nhìn tôi:

- Vậy Phú đã nhận được giấy báo đỗ trường nào chưa?...

Tôi cho cô biết là đã đỗ trường Tổng Hợp, và cũng đã làm thủ tục nhập học vào trường này.

o0o

Để biết kết quả thi đại học, tất cả học sinh đều phải đến trường cấp ba, vì họ gửi kết quả về đây, dựa trên hồ sơ đã đăng ký. Hôm đó tôi đến trường thì gặp Lợi – cậu bạn học cùng lớp, có vóc người thấp bé và mái tóc bù xù như tổ chim – cậu nhiệt tình báo tin:

- Phú ơi! Cậu có giấy báo trúng tuyển trường Luật đó!

Tuy nét mặt bạn mình không có vẻ gì là đùa bỡn, nhưng tôi vẫn cẩn thận hỏi lại:

- Sao mình chưa thấy giấy báo nhỉ?

Lợi gãi mớ tóc rối bù như bị ngứa, rướn cặp mắt tinh nghịch:

- Cậu đến nhà thầy văn phòng đoàn trường mà nhận!

Tôi đến nhà thầy xem sao, quả nhiên là có giấy báo đỗ trường Luật. Tâm trạng tôi vui hẳn lên, vì lúc này cũng đã có giấy báo của đại học Vinh. Vậy là cả ba trường tôi thi, bây giờ đều đỗ cả. Mọi người trong gia đình lúc này đều tôn trọng quyết định của tôi, vì vậy mà tôi chọn trường Luật để theo học.

Một buổi sáng tháng chín, tôi và ba đi xe khách ra Hà Nội. Hơi thu mát lạnh tràn cả vào trong xe, những giọt sương mai còn đọng trên đám lúa như một bức màn màu phấn trắng. Làng xóm và cảnh vật thân quen đã dần lùi lại phía sau.

Cuối tỉnh lộ 538 là nơi giao thoa với quốc lộ 1A, dân địa phương vẫn quen gọi là “Ngã ba cầu Bùng”. Sở dĩ có tên như vậy vì cách đó chỉ vài trăm mét có cây Cầu bắc qua sông Bùng. Tại đây nhà cửa sầm uất, người ta buôn bán đủ thứ, từ hàng tiêu dùng cho đến thức quà ăn sáng. Những người xe ôm thường đứng lố nhố ở ngã ba để bắt khách, tiếng chào mời, hỏi han hối hả. Khách chờ xe ô tô cũng tập trung tại đây, vì các xe khách đến chỗ này đều chạy chậm hoặc dừng lại.

Xe chạy chầm chậm để đón khách, qua ngã ba Cầu Bùng một đoạn mới bắt đầu tăng tốc. Dọc đường, từng tốp người đứng túm tụm chờ xe để đưa con cái đi nhập học. Thấp thoáng những khuôn mặt háo hức xen lẫn lo lắng của các bạn học sinh lần đầu tiên đi học tập xa nhà. Ra đến Hà Nội, ba con tôi đến ở tạm tại nhà một người quen.

 Hôm nhập học, trước hết tôi đến trường Tổng Hợp để rút hồ sơ và học phí đã đóng ở đây. Lúc đó chưa quen đường sá, nên vừa đi vừa phải hỏi luôn miệng.

Đến đường Láng, gần chỗ giao nhau với đường Láng Hạ, tôi dừng lại hỏi một người bán hàng:

- Cô ơi! Cho cháu hỏi đến trường Tổng Hợp đi đường nào?

Cô chủ quán to béo là người vui tính, đưa bàn tay múp míp chỉ về phía trước, lởi xởi:

- Cháu đi một đoạn nữa, đến ngã tư Sở, rồi cứ thẳng đường Nguyễn Trãi là tới nơi!...

Thấy tôi còn băn khoăn, cô khoát tay:

- Cháu cứ đi, đến đó thì sẽ hỏi tiếp!

Trường Tổng Hợp có lối kiến trúc đặc trưng kiểu Pháp, sừng sững tọa lạc trên phố Lê Thánh Tông. Ngay cổng ra vào, có một chỗ lợp mái nhô ra, trông như cái tháp canh của pháo đài. Ban đầu tôi có chút lo lắng vì nghĩ là sẽ gặp khó khăn khi rút hồ sơ, nhưng sau khi trình bày sự việc, họ đã vui vẻ đáp ứng yêu cầu mà không phàn nàn gì cả. Nhờ đó, tôi có thể đến trường Luật để làm thủ tục nhập học kịp trong buổi sáng.

Hà Nội hồi đó đang bắt đầu chuyển mình đổi mới, còn mang dáng dấp rõ rệt của một thời bao cấp. Tuy đã có những khu vực mới được xây dựng ở vùng ngoại thành, nhưng cũng chỉ là những dãy nhà cao bốn đến năm tầng. Nổi bật nhất vẫn là kiến trúc từ thời Pháp thuộc, với những tòa nhà được sơn màu vàng cổ điển, như Nhà hát Lớn, Bảo tàng Lịch sử, nhà khách Chính Phủ, Phủ Chủ Tịch (phủ toàn quyền Đông Dương trước đây).  Còn đang rất ít nhà cao tầng, có lẽ khách sạn Thắng Lợi bên Hồ Tây là tòa nhà cao nhất lúc bấy giờ. Về sau, các tòa nhà cao tầng rải rác mọc lên, tuy nhiên chỉ với một tốc độ chậm chạp. Đầu tiên phải kể đến là khách sạn Daewoo nằm ở một vị trí đắc địa, bởi cạnh đó là công viên Thủ Lệ, với hệ thống cây xanh và hồ rất đẹp.

Biết em mình đỗ ba trường đại học, anh trai tôi vui lắm. Anh đèo tôi đi chơi các nơi, đến hồ Hoàn Kiếm để chụp hình lưu niệm, nhân đó cũng làm ảnh hồ sơ luôn. Người thợ ảnh rất linh động, ông dẫn chúng tôi qua bên kia đường để chụp ảnh hồ sơ bằng cách lấy tường nhà làm phông nền. Bấy giờ Hà Nội đối với tôi mà nói, còn lạ lẫm nhiều lắm.

Hai tháng đầu, chúng tôi chưa học mà phải tập quân sự. Tôi cùng mấy bạn người Vinh nữa rủ nhau thuê nhà ở gần trường, chỗ pháo đài Láng. Gần đó có trạm khí tượng thủy văn. Chiều chiều nhìn sang lại thấy người ta thả những quả bóng khí tượng bay lơ lửng lên trời.

 Hôm đó là ngày “giải phóng thủ đô”, nghe nói buổi tối có bắn pháo hoa ở hồ Hoàn Kiếm, mấy đứa cùng phòng chúng tôi rủ nhau đi xem cho vui. Dọc tuyến phố gần bờ hồ, thấy có mấy cái sân khấu di động, người ta mở các bài nhạc đỏ giai điệu dồn dập với công suất rất lớn. Đám đông chen chúc, chờ xem pháo hoa, chỗ đứng chỗ ngồi nhốn nháo. Pháo hoa bắn chừng ba mươi phút. Xem một lúc thấy mỏi cổ, chúng tôi lại rủ nhau ngồi xuống mà tán chuyện gẫu.

Lúc đã về đến nhà, mấy đứa vẫn còn bàn luận sôi nổi:

- Bắn pháo hoa cũng phải tập tành đàng hoàng đó!

- Mình thì lại thấy như vậy là lãng phí! Đất nước mình còn nghèo, lẽ ra tiền đó nên dùng vào những việc cần thiết hơn. Ví như xây trường học cho trẻ em vùng nông thôn, miền núi chẳng hạn…

Cậu Hiến đang xả vòi nước rào rào để rửa tay, cũng nói váng lên:

- Mà thực ra ngày này có phải là giải phóng thủ đô gì đâu! Sau trận Điện Biên Phủ, quân Pháp đã bàn giao Hà Nội vô điều kiện. Cứ làm quá như vậy, chỉ tội tốn kém tiền bạc của dân thôi! – Nói xong cậu nheo mắt và nhếch mép cười hóm hỉnh.

Bản thân Hiến là một tay nghiên cứu rất cừ, lúc nào cũng kè kè bên mình cả chồng sách và cuốn từ điển dày cộp. Chúng tôi vẫn quen gọi Hiến là “Giáo Sư”, bởi nể phục sự thông thái và tinh thần nghiên cứu không biết mệt mỏi của cậu.

 Buổi sáng đang học quân sự, chợt thấy cậu Hải người Hà Tĩnh mang đến một bức thư. Tôi ngạc nhiên lắm, vì mới nhập học, mình chưa cho ai địa chỉ trường, làm sao lại có thư được nhỉ? Xem trên phong bì, thấy có dòng chữ “Thành Phố Vinh ngày…”, vì vậy mới biết là thư của Mai. Tôi mở thư ra đọc, trong đó Mai hỏi thăm tình hình học tập, nhắc nhở về kỷ niệm gặp gỡ giữa hai người. Tôi cảm nhận được tình cảm luyến lưu qua những nét chữ, gợi mở một mối quan hệ gắn bó hơn. Tối hôm đó tôi thức khuya để viết thư trả lời Mai. Và một mối tình đã được bắt đầu như vậy.