Thứ Tư, 9 tháng 3, 2016

Mùa Xuân Khát Vọng (Chương VII)


CHÂN DUNG PHỐ THỊ

Đầu đường Tạ Quang Bửu - phía Bạch Mai đi vào – có mấy quán điện tử lúc nào cũng nổi lên những âm thanh xì xèo. Bên trong lố nhố người chơi, đa phần là sinh viên trường đại học Bách Khoa. Trước đây trò chơi chạy trên đĩa, được kết nối với màn hình Ti Vi, về sau thì máy vi tính và mạng internet thịnh hành đã thay thế hoàn toàn. Đi sâu vào một đoạn, ngay lối rẽ có hàng xôi rất ngon. Bữa nào mệt không muốn ăn cơm, tôi thường đến đây ăn qua bữa. Xôi nấu dẻo quặn, ăn kèm với trứng, thịt kho hay giò đều được. Đoạn nữa, đối diện sân vận động Bách Khoa là một dãy cơm bình dân (gọi là bình dân, nhưng vẫn sang hơn những quán cơm dành cho sinh viên trong trường). Sinh viên tây, ta đến đây ăn đông lắm. Người ta ngồi lấn cả ra vỉa hè vào giờ cao điểm. Không khí khu vực này thường tấp nập, một phần là nhờ có sự hiện diện của trường Bách Khoa ngay cạnh.

Hồi đó, internet đối với Việt Nam ta còn mới mẻ, cũng chỉ Hà Nội đi tiên phong mới có. Cho nên đây là trào lưu thời thượng, nó khởi đầu cho kỷ nguyên ánh sáng thông tin nhân loại. Các quán “Chat” và trò chơi điện tử nối mạng lúc này đua nhau mọc lên. Những lúc rảnh, tôi và anh bạn thường rủ nhau đi chơi game chiến thuật nối mạng để giải trí. Trò chơi này gọi là đế chế (Empires). Cái cảm giác ban đầu được đắm chìm trong không khí thiên nhiên, lắng nghe chim hót và tiếng nhạc thúc dục thật là lôi cuốn. Những dòng sông, biển cả và cây cối trãi ra trước mắt hùng vĩ, bao la. Nhưng khi bước vào cuộc chiến thì cảm giác lại trái ngược, gấp gáp và hào hùng. Quán ở gần sân vận động Bách Khoa, đối diện với khoa đại học tại chức. Ở đây có mấy game thủ empires rất giỏi và lão luyện. Nghe nói họ thường đi đấu với những nhóm khác, và đã trở thành đội vô địch Hà Nội. Đôi lúc vào buổi tối, tôi thấy có một cô sinh viên người Tây cũng thường ngồi ở quán. Cô đến đây để liên lạc với gia đình và bạn bè ở quê nhà qua mạng internet. Nét mặt cô buồn buồn, có lẽ vì nhớ nhà thì phải. Sinh viên nước ngoài - nhất là người Châu Âu - du học ở Việt Nam rất ít. Nếu có thì cũng vì lý do hợp tác hoặc dự án đào tạo nào đó chẳng hạn. Chứ với một nền giáo dục lạc hậu như Việt Nam hiện nay, chẳng có gì để cho họ phải học hỏi cả.

o0o

Bia hơi là thức giải khát mùa hè khá phổ biến, vì nó mang lại vị mát lạnh và say sưa cho người ta. Có thể nói, uống bia hơi đã trở thành một cái thú đối với nhiều người. Bấy giờ ở Hà Nội phổ biến mấy loại bia hơi như Việt Hà, Hà Nội, bia vi sinh, bia Bách Khoa. Đó là bia hơi bình dân, còn thì như bia tươi, bia đen của Đức thì không kể đến. Nếu có vị trí và mặt bằng tốt, chủ quán có thể nhận làm đại lý, với biển hiệu và logo chính hãng. Thường thì những nơi này khá lịch sự, có hẳn nhân viên phục vụ và bán kèm đồ nhậu. Trong các khu dân cư hoặc ngõ hẻm thưa thớt, người ta cũng bán được bia hơi, đơn giản chỉ cần một thùng bia lạnh, vài ba cái bàn và mấy chiếc ghế cho khách ngồi là được.

Cái hay của bia hơi là bình dân, và để giải khát vào mùa hè. Quán bia hơi là nơi thuận tiện cho bạn bè, đồng nghiệp tụ tập hội hè. Nếu ai có tâm sự, cũng có thể ngồi một mình, nhâm nhi vại bia để mà ngẫm nghĩ sự đời, hòng quên đi những mệt nhọc và bộn bề cuộc sống. Cuối ngày, sau khi đã kết thúc giờ làm, người ta vào quán ngồi uống vài ba vại bia hơi mát lạnh. Thức nhắm thì không cần cầu kỳ lắm, mấy cái nem chua, một ít thịt bò khô hoặc lạc rang, đậu phộng là được. Lúc này, không gian quán được lấp đầy bởi những khuôn mặt đỏ bừng, người ta nói chuyện lớn tiếng, rôm rả vì hơi men. Không chỉ các quán bia, nhiều quán cơm bình dân cũng có bán kèm bia hơi để phục vụ thực khách. Sau buổi nhậu, người ta ra về khi thành phố đã lên đèn, những dáng đi lững thững, chuếnh choáng trong ánh điện nhạt nhòa.

Đối với một vùng đất mà thời tiết bốn mùa rõ rệt như ở Hà Nội và miền Bắc, bia hơi cũng là một nét đặc trưng vậy. Chỉ có mùa hè là thời điểm nóng nhất trong năm, lúc đó bia hơi mới được bán để giải khát, vì vậy mà người ta ưa thích. Điều này khác với cái khí hậu ôn hòa ở miền Nam, ở đó người ta có thể uống bia hơi quanh năm, nhưng lại không được chuộng như ngoài Bắc.

o0o

Với đủ thứ mặt hàng được bày bán, chợ Mơ mang dáng dấp của một ngôi chợ truyền thống hơn là hiện đại. Chợ tọa lạc gần ngay ngã tư, có thể nói là vị trí rất đắc địa. Xuôi theo phố Trương Định vài cây số, còn có chợ Trương Định. Với một khoảng cách ngắn mà có đến hai ngôi chợ Lớn như vậy, kể cũng thuận tiện cho việc mua sắm của dân quanh vùng. Ở thành phố thì các trung tâm thương mại, cửa hàng, siêu thị có nhiều, nhưng những ngôi chợ như thế này đóng góp rất lớn vào nhu cầu sinh hoạt địa phương. Vì hàng hóa ở đây được bán với giá cả hợp lý, không đắt đỏ như trong các siêu thị. Thứ nữa, chợ còn mang giá trị lịch sử, vì nó gắn bó với cuộc sống con người từ xa xưa.

Từ chợ Mơ, dọc theo phố Bạch Mai rồi xuôi ra phố Huế, từ đó đến trung tâm thương mại Tràng Tiền cũng không xa. Tuy nhiên, quan trọng là nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, cho nên vẫn cần có chợ. Khu vực này có sự hiện diện liên hoàn của ba trường đại học lớn là Xây dựng, Kinh tế quốc dân, Bách Khoa, nên số lượng sinh viên đến đây mua sắm không phải là ít. Ban ngày phố Bạch mai cũng thường thường bậc trung, nhưng đêm đến thì rực rỡ ánh đèn, lúc này lại mang dáng dấp của một khu phố buôn sầm uất. Đôi lúc tôi cũng có chút ngỡ ngàng, vì sự khác biệt giữa đêm và ngày của khu phố này.

Vì ở trọ gần chợ Mơ, cho nên cũng có vài lần chúng tôi ra đây mua sắm. Quận Hai Bà Trưng có bến xe Giáp Bát, bến xe Nước Ngầm và ga Giáp Bát. Vì vậy mà mỗi lần cần về quê, đối với những người ngoại tỉnh như chúng tôi mà nói, đó là điều kiện rất thuận tiện.

Về quê nghỉ tết xong, hôm nay tôi trở ra Hà Nội. Anh xe ôm chở tôi đến tận đầu ngõ, vừa từ trên xe bước xuống đã nghe tiếng gọi:

- Anh Phú vừa ở quê ra đó hử? Vào trong này uống chén nước đã!

Đó là tiếng chú Ngân, chủ quán nước đầu ngõ. Trả tiền xe ôm xong, tôi bước vào quán:

- Chào chú! Năm mới chú và gia đình vẫn khỏe?

- Cảm ơn anh! Mọi thứ vẫn tạm ổn! Tết năm nay cũng thường thôi, không có gì vui lắm! – chú Ngân trả lời, rồi vồn vã rót nước.

Tôi để ý thấy hôm nay chú ăn vận lịch sự hơn ngày thường. Chiếc áo len cổ hình trái tim được mặc bên ngoài áo sơ mi cổ bẻ, ngoài cùng lại khoác thêm cái áo veston màu xám nền nã. Đầu đội mũ bê rê cùng màu với áo khoác. Phía sau chú, ngay lối cửa ra vào, chậu đào Nhật Tân vẫn đang khoe sắc. Không khí tết dường như còn vương vất đâu đây.

Chú lấy bao thuốc lá mời tôi, rồi cũng rút một điếu châm lửa hút.

- Đời sống khó khăn, nên năm nay người dân ăn tết cũng qua loa. Chủ yếu là để giữ gìn cái phong tục cổ truyền mà thôi! – Chú nói sau khi phả làn khói thuốc.

- Nhìn vào không khí tết, cũng biết được cuộc sống người dân thế nào. Đời sống tinh thần, vật chất của họ ra sao. Thưa chú!

Chú gật đầu:

- Phải! Phải! Công ăn việc làm kém, lương thướng lại thấp. Chế độ an sinh xã hội không có, dân kêu ca nhiều lắm!

Chú Ngân vốn là công chức về hưu. Trong cuộc sống hằng ngày, chú vẫn luôn cố gắng để giữ thể diện của một người trí thức, mà không để cho cái giả dối của xã hội đương thời xen vào. Vì vậy mà tôi đâm quý mến, thường vẫn đến đây ngồi uống nước và trò chuyện với chú.

o0o

Hà Nội, hiểu theo nghĩa xưa là thành phố ở trong sông. Nội thành dĩ nhiên là phía nam bờ sông Hồng, vì vậy mà mỗi lần sang Gia Lâm là tôi phải qua cầu Long Biên. Tôi thường đi theo đường Hoàng Diệu, sau đó rẽ qua phố Phan Đình Phùng, ra bốt Hàng Đậu rồi đi lên cầu. Lần nào đi qua, tôi cũng để ý ngắm bốt Hàng Đậu, vì nó gây ấn tượng. Người Hà Nội vẫn quen gọi là bốt Hàng Đậu, bởi nó trông giống như một cái bốt gác hoặc lô cốt hình bát giác. Bốt án ngữ ngay cửa ngõ ra vào thành phố ở ngã sáu các phố Hàng Than, Hàng Lược, Hàng Giấy, Hàng Đậu, Quán Thánh và đường Phan Đình Phùng. Toàn bộ được xây bằng đá hộc kiên cố, với chiều dày hơn một mét. Kỳ thực đây là cái tháp nước do người Pháp xây dựng năm 1894 để cung cấp nước sạch cho binh lính Pháp và một ít khu vực dân cư lân cận. Khi mới nhìn thấy tháp nước này lần đầu, quả thật tôi vẫn nghĩ đó là một cái lô cốt phòng thủ vậy.

Những cơn gió sáng nay cuốn tung lớp bụi và đám lá trước ngõ. Trời chuyển lạnh, mùa đông dường như đã về. Người ta đã bắt đầu cảm nhận được cái rét đầu mùa của đất trời. Từng dáng người đi lại chậm rãi, co ro. Dòng người trên phố lúc này đã áo ấm bịt bùng, chỉ sau một đêm trời chuyển gió mùa đông bắc. Lũ trẻ được bố mẹ mặc cho những chiếc áo ấm căng phồng, xúng xính rủ nhau đi học. Trong những con hẻm nhỏ, thời gian dường như trôi chậm hơn. Bên hàng bún ốc hay phở đang bốc khói nghi ngút, người ta vừa ăn quà sáng vừa nói chuyện thời tiết, phố phường.

Buổi tối, chúng tôi đóng thêm vào chỗ cửa sổ tấm bìa cứng, để gió khỏi luồn qua khe hở. Gió thổi mạnh, khiến cho mấy cành cây đập vào cửa sổ nghe lộp bộp liên hồi. Làm xong công việc, tôi tùm hum trong chiếc áo khoác dài, ngồi pha ấm chè để uống buổi tối. Quang đi lấy thêm cái áo len cao cổ mặc vào, xong rồi cậu vuốt lại mái tóc loăn xoăn bị xòa xuống, miệng vẫn xuýt xoa vì lạnh. Quang làm việc tại đài truyền hình Việt Nam, cậu tốt nghiệp đại học Bách Khoa và phụ trách bên kỹ thuật.

Hôm nay chưa phải là lạnh lắm, nhưng vì đầu mùa, cho nên người ta chưa kịp thích nghi. Cậu Sang vẫn ngồi làm việc, tiếng gõ bàn phím nghe lách cách, tiếng giở sách sột soạt. Một lúc thì thấy lạnh, Sang với tay lấy chiếc áo khoác rộng quá khổ choàng lên người, trông cứ như cái áo tơi. Hơi lạnh làm cho cậu thi thoảng lại húng hắng ho.

Quang mở nhạc tiền chiến để nghe, rồi ngồi xuống uống trà. Bài hát "Buồn tàn Thu" của Văn Cao, với giọng ca Ánh Tuyết dặt dìu vang lên:

"Ai lướt đi ngoài sương gió. Không dừng chân đến em bẽ bàng. Ôi vừa thoáng nghe, em mơ ngay bước chân chàng. Người ơi còn biết em nhớ mong. Tình xưa còn đó xa xôi lòng..."

Tôi chăm chú lắng nghe, rồi thán phục nhận xét:

- Nhạc của Văn Cao du dương mê hoặc, như ở chốn bồng lai tiên cảnh vậy. Ngôn từ lại mang dáng dấp cổ điển, sang trọng!

- Có thể nói Văn Cao là kỳ tài âm nhạc – Quang gật gù.

Tôi nói thêm:

- Nếu như đời nhà Đường bên Trung Quốc, người ta gọi Lý Bạch là tiên thơ, Đỗ Phủ là thánh thơ, thì ở bên ta có thể gọi Văn Cao là tiên nhạc, Trịnh Cộng Sơn là thánh nhạc vậy!

Ngoài kia, mặc cho gió lạnh và mưa phùn, tiếng rao của người bán bánh dạo vẫn đều đều vọng vào, chậm rãi, như gần như xa.