Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

TRĂNG MIỀN SƠN CƯỚC (Chương I)


CHUYẾN ĐI KHẢO SÁT

Phương đang lúi húi xếp mấy bộ quần áo vào trong cái vali vải. Trời đã vào đông, vì vậy anh mang theo đồ ấm, vài cái áo khoác và khăn quàng để có thể chịu được cái rét nơi công trường xây dựng. Giám đốc công ty hẹn tuần này đi làm và dặn anh cứ đợi, sẽ có người gọi tới. Phương sắp vào làm việc tại một công trình thủy lợi, chưa biết ở đâu, chỉ nghe nói là một vùng miền núi của tỉnh, vậy nên anh cần chuẩn bị đồ đạc trước để đến lúc khỏi chộn rộn. Mới từ thủ đô về quê tháng trước - Sau thời gian học đại học và làm việc mấy năm ở đó - Dường như duyên nợ quê hương vẫn còn sâu nặng đối với Phương lắm.

Sắp xếp đồ đạc xong, Phương đẩy chiếc vali vào góc nhà, rồi ngồi vào bàn châm thuốc hút. Công việc mới cũng gợi nhiều suy nghĩ và tưởng tượng, vì quả thực anh chưa hề tiếp xúc qua bao giờ. So với ngành học sự phạm của mình, lẽ ra anh phải là một giáo viên đứng trên bục giảng. Công việc xây dựng tuy trái khoáy, nhưng mỗi môi trường làm việc là một trãi nghiệm thú vị cho con người ta. Nghĩ vậy nên anh mới xin vào làm việc ở công ty hiện giờ.

Phương giơ tay nhìn đồng hồ, đã gần tám giờ sáng. Chợt có tiếng chuông điện thoại reo, anh mở máy:

- Alo! Tôi nghe đây!

Tiếng người đàn ông bên kia:

- Alo! Có phải số máy của anh Phương đây không ạ? …

- Dạ phải! – Phương trả lời, vẫn chưa hết ngạc nhiên vì thấy số máy lạ.

- Tôi là người bên công ty thủy lợi. Chúng tôi đang tập trung tại ngã ba "cầu Đông", hẹn anh ba mươi phút nữa có mặt ở đó, chúng ta sẽ đi khảo sát công trình luôn nhé!

Dù đã chuẩn bị tâm thế sẵn, nhưng thời gian gấp gáp khiến cho Phương không tránh khỏi cảm giác bất ngờ. Từ nhà đến ngã ba cầu Đông chỉ khoảng bảy, tám cây số, họ hẹn nửa tiếng đồng hồ cũng là để anh có chút thời gian chuẩn bị. Anh dụi điếu thuốc hút dở vào cái gạt tàn inox, rồi vội vã mang vali ra cột lên xe máy đang dựng ở góc sân. Hôm nay thời tiết đẹp, tuy trời se lạnh nhưng có nắng ấm. Phương mặc thêm chiếc áo khoác mỏng, chỉ kịp chào tạm biệt mẹ vội vàng rồi nổ máy lên đường.

Ngã ba "cầu Đông" lúc này lố nhố những người và xe cộ đi lại. Tiếng động cơ của phương tiện giao thông xen lẫn tiếng còi xe inh ỏi, tạo nên cái cảm giác chuyển động gấp gáp. Nơi đây là giao điểm với quốc lộ 1, vì vậy mà xe cộ qua lại không ngừng. Phương dừng xe quan sát, rất khó nhận ra người cần tìm bởi có rất đông người đang đứng bên đường đợi xe khách. Anh lấy điện thoại ra, bấm vào số máy lúc nãy đã gọi cho mình. Vẫn tiếng của người đó:

- Alo! Anh Phương phải không? Anh đi đến đâu rồi?...

- Tôi đã đến nơi, đang đứng ở đầu ngã ba, nơi có tấm biển chỉ đường đó anh!

Bên kia tắt máy, rồi anh nghe thấy có tiếng gọi tên mình. Nhìn sang phía bên kia đường thì thấy có mấy người đang đứng vẫy tay, anh liền cho xe chạy sang phía đó. Đám người cũng chở theo đồ đạc tư trang lỉnh kỉnh giống như Phương, có người còn buộc cả chiếc máy đo đạc với cái chân chạng ba dài ngoẵng phía sau xe.

Một người trạc hơn Phương dăm tuổi, mặc áo veston màu đen, đầu đội mũ bảo hộ bước ra, rồi giơ tay bắt:

- Chào anh Phương! Tôi là kỹ sư Thành - người lúc nãy gọi cho anh đây - đồng thời cũng là chủ nhiệm công trình đợt này.

Tác phong hòa nhã của Thành tạo cho Phương cái cảm giác gần gũi và tin cậy, tuy nhiên anh vẫn còn chưa hết bỡ ngỡ:

- Chào anh! Xin chào mọi người – nói rồi Phương gật đầu về phía mấy người đang đứng quanh đó.

Thành cười rất tươi, để lộ hàm răng trắng đều như hạt bắp, cất tiếng vui vẻ:

- Giới thiệu với mọi người, đây là Phương, người hôm nay sẽ vào làm với chúng ta. Còn mấy anh em ở đây đều cùng công ty mình cả.

Khi thấy mọi người đã xong thủ tục làm quen, Thành ngồi lên xe máy, vồn vã:

- Nào. Bây giờ thì chúng ta lên đường thôi. Hành trình còn bảy đến tám mươi cây số nữa kia đấy!

o0o

Cả nhóm năm người chạy xe theo con đường nối quốc lộ 1 với các huyện miền tây xứ Nghệ. Là tuyến giao thông huyết mạch của tỉnh, cho nên đường rộng rãi và được trãi nhựa khá tốt. Những làng xóm bên đường, những ngọn đồi màu xanh lam lần lượt hiện ra trước mắt họ. Với Phương, khung cảnh miền núi lúc này thật đẹp, gợi lên cái cảm giác vừa lạ lẫm vừa thân quen. Thành đi đầu, những người khác lần lượt bám theo phía sau anh. Nhìn người chủ nhiệm công trình lúc này đeo kính mát, dáng ngồi xe máy hơi gù gù rất lãng tử, khiến người ta dễ hình dung đến hình ảnh một chàng cao bồi miền tây nước Mỹ thứ thiệt, đang rong ruổi trên hành trình phiêu lưu kiếm tìm chân lý của đời mình.

Đường đi qua mấy con dốc men theo triền đồi thoai thoải. Có lúc gặp phải dốc đứng quanh co, xe về số hai, tiếng máy gầm lên rù rù, vậy mà cứ nhích dần từng chút một. Lại phải bẻ tay lái theo từng khúc quanh, cảm giác như xe đang bò trên đường vậy. Khi lên khỏi con dốc, họ lại nhấn số và tiếp tục cho xe chạy với tốc độ bình thường như trước. Cảnh tượng như trãi rộng ra trước mắt chói lòa, những ngọn đồi cao su được trồng thẳng tắp và đồi keo lá tràm nở hoa vàng rực như hình những chiếc đuôi chồn đang đung đưa trong làn gió nhẹ.

Đến một ngã tư giao lộ thì rẽ vào con đường đất đỏ ngoằn ngoèo. Đi thêm độ vài cây số nữa thấy hiện ra một ngôi chợ đông đúc, hàng hóa bày bán khá nhiều, chẳng khác gì cảnh buôn bán tấp nập dưới xuôi cả. Qua chợ lại rẽ vào một con đường đất khác, từ đây cảnh tượng trở nên yên ắng hơn vì ít thấy bóng người qua lại.

Đang đi thì bắt gặp một ngã rẽ, cả nhóm dừng lại nhìn quanh để xác định phương hướng. Mọi người phân vân vì chưa biết hỏi ai, đúng lúc thấy một cụ ông mặc bộ đồ lao động đã bạc màu, từ trong đám ruộng dưa gần đó vác cuốc lầm lũi bước ra.

     Một người trong nhóm mừng rỡ:

- Chào cụ! Nhờ cụ chỉ dùm chúng cháu đường đến thôn Đông?

Cụ già chống cuốc, ngơ ngác nhìn đám người đi đường một lúc, rồi nhe hàm răng đã sún lỗ chỗ ra hỏi:

- Các anh đến chỗ công trường làm đập thủy lợi phải không?...

Cả nhóm cùng ồ lên:

- Phải đó. Thưa cụ!

Nghe vậy, cụ già liền giơ ngón tay, ngoái đầu chỉ về phía sau:

- Vậy các anh cứ đi thẳng, đến hết con đường này thì thôi!

Cụ già trả lời xong lại vác cuốc thủng thẳng đi tiếp, chẳng cần bận tâm đến lời cảm ơn của những người đi đường. Người miền núi sống chân thành là thế, coi việc giúp đỡ người khác như là một lẽ tự nhiên vậy.

Lúc cả nhóm đến nơi thì đã thấy mấy người tiền trạm đứng đón ở đó và đưa vào nhà một người dân cuối xóm. Ở đây cách công trường mà họ sẽ thi công chỉ có vài trăm mét về phía đông. Những người tiền trạm có mặt ở đây từ tuần trước, họ đến để thuê nhà và làm các thủ tục cần thiết với địa phương.

Căn nhà khá rộng với dãy nhà chính ba gian, chỗ gian lồi có trổ một ô gạch lổng nhìn ra phía thềm lên xuống. Ở gian giữa đặt bộ bàn ghế tiếp khách bề thế bằng gỗ lát hoa, lúc nhìn vào sẽ thấy nổi lên những lằn vân gỗ sặc sỡ như đám mây ngũ sắc. Hai gian còn lại thì làm buồng và phòng ngủ. Ngoài ra còn có một dãy nhà ngang và bếp riêng nữa. Phía đông là bãi đất rộng để làm vườn. Ở đó được trồng nào là khoai lang, sắn, lạc, xen kẽ những cây ăn trái tốt tươi. Phía cuối vườn là bãi cỏ voi(1) được trồng để chăn nuôi bò, đám cỏ cao lút đầu người, mọc trãi dài cho đến tận chỗ tiếp giáp với khu đất công. Giữa vườn là khu chăn nuôi, gồm có chuồng nuôi bò, gà và chuồng lợn. Nhìn thấy cơ ngơi khấm khá như vậy, khách có thể hình dung được phần nào cái công sức mà gia chủ đã bỏ ra để đầu tư vào đó. Ông bà chủ là nông dân, họ vốn từ dưới miền xuôi lên đây để phát triển kinh tế cách nay đã hơn hai mươi năm về trước.

Phương, Thành và một anh kỹ sư tên Trung nữa ở đây, mấy người khác thì sang ở nhà bên cạnh. Họ chọn thuê nhà ở gần nhau là để thuận tiện trong việc phối hợp và bàn bạc công việc. Thành là một kỹ sư trẻ có năng lực, tuy vậy anh cũng đã có hơn mười năm trong nghề xây dựng. Năm nay ba mươi lăm tuổi, nhưng Thành từng được công ty giao phụ trách nhiều công trình lớn. Hẳn là vì anh được giám đốc tín nhiệm vào năng lực chỉ đạo thi công, điều mà đa phần phải là những kỹ sư lâu năm trong nghề mới có được. Các công trình mà Thành phụ trách thường đạt chất lượng tốt và hoàn thành vượt mức tiến độ. Với dáng người mảnh khảnh, khuôn mặt trắng trẻo vui tươi, vầng trán cao với mớ tóc xoăn thường xuyên lòa xòa trước trán – Thành tạo ấn tượng với người đối diện như là một người lãnh đạo lịch thiệp hơn một kỹ sư làm việc vất vả nơi công trường bụi bặm này.

Sau khi đã nghỉ ngơi vài tiếng đồng hồ, đến đầu buổi chiều cả nhóm tiến hành đi khảo sát công trình ngay. Từ cuối xóm, họ đi theo con đường mòn nhỏ mà hai bên mọc đầy những cỏ và cây dại lúp xúp. Một người vác máy đo, vài người khác thì ôm cả mớ cọc để cắm mốc và các vật dụng lỉnh kỉnh khác. Qua bãi đất trống là bắt gặp những ngọn đồi thấp trồng mía và cây ăn quả. Lúc leo lên đến một ngọn đồi trồng cam, đã thấy thấm mệt nên họ quyết định nghỉ tạm, đồng thời để quan sát địa hình xung quanh. Cam ở đây đã được thu hoạch, chỉ còn lác đác những trái xanh còn lấp ló trên cành. Những diện tích này đều nằm trong diện giải tỏa để thi công con đập, vì vậy đồng bào đã cho thu hái từ trước đó.

Một lúc thì đã lấy lại được sức lực, họ cùng nhau tiếp tục công việc khảo sát. Những bước chân dẫm vào đám cành cây nghe lạo xạo, đất đá bật lên ràn rạt rồi lăn lông lốc xuống phía dưới triền đồi.Thành cầm trên tay tập bản vẽ, thi thoảng vừa đi anh vừa giở ra nhìn để đối chiếu với thực địa. Trước mặt là một bãi mía bạt ngàn, đoàn người vừa đi vừa phải lấy tay vạch những đám lá rậm rì đang bủa vây để tiến lên. Dù đã đi loại dày có đế bám tốt, nhưng do không quen với việc leo đồi, lại bị lá mía cào rát mặt, nên Phương bị tụt hẳn lại phía sau. Lúc này, đám cỏ may phía dưới lại bám đầy vào hai bên ống quần, khiến anh cảm thấy rất ngứa ngáy khó chịu. Nhìn thấy Thành và mấy người vẫn đang thấp thoáng trước mặt, vậy mà anh không tài nào bắt kịp được họ.

Sau một hồi chiến đấu với đám lá mía sắc nhọn quái ác, cuối cùng tốp người phía trước cũng leo lên được ngọn đồi quan sát. Lúc này nhìn quanh không thấy Phương đâu, mọi người liền hốt hoảng hỏi nhau. Một người trong bọn liền đưa tay lên miệng làm loa, gọi váng lên:

- Phương ơi!... đâu rồi?...Chúng tôi ở trên đây này!...

Phương nghe tiếng gọi ở phía trên đầu, anh đưa cả hai tay, cố vạch những đám lá mía để nhìn thấy lối đi và leo lên dần. Hơi thở dường như ra cả đằng tai, anh thấy đầu mình ong ong, âm thanh cứ văng vẳng nghe như gần như xa. Giờ đây anh mới hiểu cái cảm giác của một vận động viên leo núi như thế nào, hẳn họ phải khỏe, phải có kinh nghiệm và nhiều nghị lực lắm.

Rốt cục rồi Phương cũng bắt kịp tốp người phía trước đang đợi mình. Một người đưa tay cho Phương nắm để kéo anh lên khỏi bãi mía. Thấy Phương bị đám lá mía quần cho tả tơi, mọi người nhìn nhau cười ngất.

Kỹ sư Trung tủm tỉm cười, cúi khom người xuống để nhặt những đám cỏ may bám vào quần, rồi quay sang Phương lúc này đang ngồi thở, động viên:

- Dân thủ đô mới về, leo được như vậy là khá lắm rồi!

Ai nấy lại cùng cười vui vẻ, cái cười cảm thông đối với chàng lính mới đang bước đầu thấm thía những trãi nghiệm vất vả của chuyến đi.

Sau mấy phút bông đùa, cả nhóm lại bắt tay vào công việc. Một người dựng cái chân chạng ba xuống đất để kỹ sư Trung lắp máy đo vào. Điều chỉnh tọa độ xong, Trung bắt đầu nheo nheo mắt để ngắm. 

Ở chỗ này họ nhìn thấy dòng sông chảy xiết thành một dãi trắng xóa, uốn lượn qua những ngọn đồi, bãi mía xanh mướt sắp đến kỳ thu hoạch. Tương lai, khi con đập xây dựng xong, sẽ là nơi điều tiết nước cho cả một vùng rộng lớn, phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp. Và một hệ thống kênh dẫn nước cũng sẽ được người ta xây dựng để kết nối với con đập này.

o0o

Từ trên cao nhìn xuống, thôn Đông giống như một chiếc mai rùa khổng lồ nhô ra giữa những đám ruộng mía và cây nông nghiệp xanh mướt. Gần đó còn có vài thôn bản người Thổ(2) sống rải rác trên mấy ngọn đồi thoai thoải, với những ngôi nhà sàn thấp thoáng, nhấp nhô như lượn sóng.

Chủ nhà có hai cô con gái chỉ cách nhau độ vài tuổi. Cô chị đã nghỉ học, hiền lành chăm chỉ và sống lặng lẽ như một cái bóng. Hằng ngày cô đều đi ra chỗ cuối vườn để cắt cỏ voi cho Bò ăn. Bó cỏ cao hơn đầu người, vì vậy mà khi cô vác trên vai để đi thì trông chẳng khác gì một lùm cây đang di động cả. Công việc cơm nước, giặt giũ trong gia đình cũng đều một tay cô làm hết. Cô em tên Hương - năm nay học lớp mười một - thì lại nhí nhảnh vui tươi, và cũng xinh đẹp hơn chị mình rất nhiều. Ở dãy nhà ngang có một gian phòng dành cho hai chị em, tại đây cạnh cửa sổ còn kê một cái bàn nhỏ để Hương ngồi học bài. Cậu con trai út tên Thiết, mới hết lớp tám thì nghỉ học, bây giờ ở nhà để phụ giúp gia đình. Công việc của cậu thường là lùa đàn bò ra bãi chăn thả cho chúng gặm cỏ. Thời gian còn lại, Thiết làm việc quần quật như một người đàn ông đã trưởng thành thực thụ. “Chúng tôi là con nhà nông dân, đứa nào sáng dạ thì cho học lên, còn nếu không học được thì hết cấp hai là cho nghỉ. Ở nhà còn bao nhiêu là công việc có ích cần phải làm nữa kia mà” – Ông chủ nhà vừa rít thuốc lào vừa nói với các vị khách như vậy, vầng trán màu đen nâu của ông nhíu lại thành nếp hằn ngang dọc như những vệt đường mòn trên đỉnh núi. Cả hai ông bà đều là nông dân hiền lành, chân chất. Bà vợ dáng cao gầy, khuôn miệng tươi vui dường như lúc nào cũng nở một nụ cười thân thiện với những người xung quanh.

Từ khi nhà có khách, cứ đến giờ ăn, cơm được dọn ra một cái bàn kê ở giữa gian nhà ngang. Trước đây nhà dùng mâm nhỏ, nhưng bây giờ đông người hơn, ông chủ cho kê cái bàn gỗ mới có đủ chỗ ngồi. Gần đó là bếp củi vẫn đượm than hồng, để sưởi ấm cho căn phòng trong những ngày mùa đông.

Sau giờ cơm chiều, chủ và khách thường ngồi uống nước chè xanh và trò chuyện ở bàn khách. Chè xanh ở đây rất sẵn, nhà nào cũng trồng một vạt ở trước nhà mình hoặc trên đồi. Hằng ngày, cứ sáng sớm thì bà chủ nhà hoặc cô con gái lại cầm một cái rổ tre đi ra hái chè để om nước. Nấu ngày nào thì hái ngày ấy, vì vậy mà chè luôn được tươi ngon. Thời điểm này mọi công việc trong ngày cũng đã kết thúc, vì vậy khách có thời gian để nghe ông chủ say sưa kể về những năm tháng mới lên đây lập nghiệp. Lời kể của ông hấp dẫn, miên man như những câu chuyện cổ tích xa xưa. Lúc này, Phương có cảm giác như đang được nghe một già làng hay trưởng bản kể cho con cháu nghe về những bản trường ca bất hủ của dân tộc mình vậy.

Ông kể rằng, ở thôn này hầu hết là người từ dưới xuôi lên lập nghiệp. Hồi trước vùng này còn hoang vu lắm, những bãi đất hoang mọc đầy cỏ và cây gai, trên đồi thì cây cối mọc um tùm mà chưa hề được khai phá. Chỉ có một ít nương rẫy của người Thổ ở đằng kia, nhưng đồng bào cũng chỉ canh tác theo kiểu tự cung tự cấp, chứ chưa tạo được sản phẩm hàng hóa. Đa phần người ta đến đây là để khai hoang, ở dưới xuôi ít đất, cả nhà chỉ trông chờ vào mấy sào ruộng cho nên không sống được. Ở đây có đất đai cho họ trồng trọt và chăn thả gia súc, tha hồ mà bung sức mình ra. Tuy nhiên cũng có một số làm nghề buôn bán. Họ sống tập trung gần những con đường lớn, tự mở hàng quán, rồi cùng nhau lập chợ. Sau đó lại về dưới xuôi mang hàng hóa lên. Các sản phẩm miền núi vì thế mà cũng bắt đầu được giao lưu, buôn bán rộng rãi.

Bây giờ giao thông đã phát triển hơn trước, xe ô tô đưa hàng hóa từ dưới xuôi lên rất nhiều, cho nên người dân nơi đây không còn phải chịu cảnh thiếu thốn hàng tiêu dùng như mấy chục năm trước nữa. Khi mới lên đây, ông trồng trước nhà một hàng tre chạy dài, và cũng là để phân cách địa giới với đất công. Sở dĩ ai cũng trồng nhiều tre, vì người Việt mình vẫn coi đó là giống cây đa dụng, cần thiết cho công việc làm nhà và đan lát. Ngoài con trâu, cái cày, thì cây tre cũng là thứ không thể thiếu để khởi đầu lập nghiệp vậy. Vì nhà ở thưa thớt, đất đai rộng rãi cho nên ở đây người dân không xây bờ tường ngăn cách với hàng xóm như dưới xuôi.

- Từ chỗ không có đất, khi lên đây thấy đất đai rộng rãi, tội gì mà không trồng. Cứ có giống cây gì là mình đều trồng thử hết. Các chú tính, một cái thôn trên này có diện tích bằng cả xã dưới đồng bằng ấy chứ - Ông chủ nói với một vẻ đầy tự hào, như người chiến binh kể về những chiến công oanh liệt ngoài mặt trận vậy.

Rồi ông lại nhướn cặp lông mày rậm rạp nhìn sang các vị khách:

- Các chú thấy đấy, toàn là nhờ sức người làm nên cả. Chúng tôi lên đây hai bàn tay trắng, con cái lúc đó hẵng còn thơ dại. Trong tay chỉ có cây rựa, cày cuốc và một ít giống cây. Hai vợ chồng phải bỏ công sức làm quần quật mới khai hoang được mấy mẫu đất để gieo trồng. Từ miền xuôi lên, lúc đầu cũng không quen với cảnh đồi núi như các chú bây giờ đây. Tối nằm nghe tiếng muông thú kêu mà cứ rờn rợn. Nhưng lâu dần cũng quen đi, rồi thấy gắn bó vùng đất này. Bây giờ thì cơ ngơi cũng tạm ổn. Con cái cũng đã lớn lên để có thể phụ giúp công việc được rồi. Thành ra nhà có thêm sức lao động…

Bên ngoài trời đã tối hẳn, rặng tre trước nhà cũng chìm vào bóng đêm đặc quánh. Cảnh vật không còn nhìn rõ nữa, chỉ nghe thấy tiếng kẽo kẹt của những thân tre cọ vào nhau mỗi khi có cơn gió thổi qua.

- Vậy cô chú có hay về dưới xuôi không? – Phương ôn tồn hỏi, ánh mắt vẫn chăm chú nhìn ông.

- Tổ tiên họ hàng chúng tôi đều ở dưới xuôi cả. Mỗi dịp tết nhất hay giỗ trọng thì lại về cúng bái – Ông đáp, giọng bùi ngùi, khuôn mặt như bức tượng bán thân bằng đồng hun hiện rõ dưới ánh đèn điện vàng vàng.

Thấy không khí câu chuyện có vẻ chùng xuống, anh Thành đưa tay vuốt mớ tóc lòa xòa, tếu táo:

- Nếu bán cả đàn gia súc của chú, cũng mua được vài cái máy cày rồi ấy chứ. Hay là như vậy đi, làm ăn cơ giới hóa cho nó khỏe?

Nói rồi Thành nâng cốc chè xanh tợp một ngụm. Vị chát của chè làm cho anh phải nhăn mặt lại. Cho đến giờ, anh vẫn chưa quen được cái thói quen uống nước chè đặc của nhà chủ.

- Ây dà! – Ông chủ cao giọng, rồi vỗ tay đánh đét vào đùi - Cả gia tài chúng tôi chỉ có vậy. Bây giờ bán đi mua máy cày mà làm gì hở chú? Có ai biết lái đâu. Vả lại đất đai cũng có phải nhiều gì cho cam…

- Ở vùng này người ta thường trồng cây gì để cho hiệu quả kinh tế cao nhất hả chú? – Phương lại tò mò hỏi, rồi bật lửa châm thuốc lá hút.

- Bấy giờ cũng có một số hộ trồng cây công nghiệp hoặc lâm nghiệp như cao su, keo, bạch đàn để cho thu nhập cao hơn. Muốn vậy thì người dân phải lấy ngắn nuôi dài. Trước hết là trồng cây nông nghiệp ngắn ngày như ngô, khoai, sắn, mía, kết hợp chăn nuôi. Sau đó mới có vốn để đầu tư trồng các giống cây lâu năm khác chú ạ! – Ông chủ giải thích.

 Đang hí hoáy đóng cái móc áo mới mua sáng nay ở chợ về, anh Trung cũng vui vẻ chêm vào câu chuyện:

- Bây giờ cứ trồng quế là nhất chú ơi! Cháu nghe nói mấy xã bên có nhiều nhà trồng lắm.

Ánh mắt ông chủ sáng lên linh hoạt:

- Chú nói cũng phải! Nhưng quế là loại cây lâu năm, phải mất từ năm đến bảy năm mới cho thu hoạch vụ đầu kia đấy!

Những cuộc nói chuyện giữa chủ và khách như vậy bao giờ cũng diễn ra tự nhiên và thoải mái. Bà vợ và hai cô con gái vẫn giữ cái nề nếp khuôn phép của một gia đình nông thôn, thường rất ít khi có mặt ở nhà trên khi đang có khách, trừ khi có việc gì thật cần thiết.

o0o

Sau một tuần lễ, Phương đã bắt đầu thích nghi dần với cuộc sống nơi đây. Tối qua anh ngủ ngon giấc, không còn lạ lẫm và trằn trọc như mấy hôm đầu nữa. Buổi sáng khi thức dậy, anh cảm thấy cơ thể mình dồi dào năng lượng. Không khí ở đây trong lành, không gian thì thật là yên tĩnh, điều đó rất tốt cho sức khỏe của con người.

Sáng nay Phương sang nhà hàng xóm để bàn chút việc với mấy người cùng công ty đang ở bên đó. Hương cũng đòi theo, cô vừa đi vừa nhảy chân sáo đằng trước, khiến cho búi tóc màu nâu nâu cột trên đầu cứ nẩy lên như cái đuôi gà, nom đến là ngộ. Tuy mới quen nhưng cô gái quý Phương lắm, thường đòi anh bày cho cô học bài và bắt kể đủ thứ chuyện về thành phố nữa. Cô coi Phương như anh trai, vì vậy mà hai anh em vẫn thường quấn quýt lấy nhau mỗi khi có mặt.

Vừa bước vào đến sân, thấy cảnh mọi người đang kéo che(3) Phương liền dừng lại để xem. Mùi nước mía lúc này bốc lên thơm lừng, những bã mía đã được máy ép rơi vương vãi khắp nền gạch. Chiếc máy kéo che lừng lững, hai cái trục tròn tròn quay đều đặn theo từng bước chân chậm rãi của chú trâu mộng. Có hai người đứng cạnh máy, họ cầm những đoạn mía đã được lau sạch rồi cho vào ép. Nước mía rỉ ra, chảy thành một dòng màu vàng nhạt lẫn với bọt trắng xuống cái chậu bằng nhôm đặt phía dưới. Mấy cô gái miệng đeo khẩu trang, tay cầm dao sắc, vừa lóc mía vừa ngồi trò chuyện rôm rả. Từng thanh mía lau xong được ném vào vị trí, chất thành đống cao. Đây là lần đầu tiên Phương nhìn thấy cảnh này, khiến anh không khỏi ngạc nhiên và háo hức. Thấy vị khách tỏ vẻ tò mò như người từ trên trời rơi xuống, mấy cô gái lau mía cứ đưa mắt nhìn nhau mà cười khúc khích.

Hương cũng có cùng tâm trạng với các cô gái, cô véo vào tay Phương:

- Bây giờ anh mới nhìn thấy kéo che sao?...

Phương hơi giật mình, anh ngượng ngùng gật đầu thừa nhận, mắt vẫn không rời khỏi chiếc máy đang hoạt động.

- Ở quê em, công việc kéo che thường bắt đầu từ tháng mười một âm lịch cho đến khoảng đầu tháng một năm sau. Sau khi ép nước mía – tức là kéo che như anh đang thấy đấy – người ta sẽ đem nấu thành mật. Dĩ nhiên là khi nấu mật cũng cần nhiều công đoạn cần thiết khác nữa như lọc cặn, đun sôi để cô mật, đảo mật – Hương giải thích, đồng thời nở một nụ cười đầy cảm thông.

Bị lôi cuốn bởi lời giới thiệu của Hương, anh quay sang hỏi cô:

- Mật được làm ra nhiều như vậy, người ta sẽ bán ở đâu?

Hương lại cười, khóe miệng hơi cong lên như có ý chế diễu cái sự ngây ngô của Phương:

- Các thương lái dưới xuôi sẽ đến mua để bán cho những cơ sở làm bánh, kẹo. Họ sẽ trả tiền theo giá thị trường năm đó, và còn dựa theo chất lượng ngon của mật nữa. Bây giờ có nhà máy đường đóng gần đây, họ đã đặt trước vùng nguyên liệu và sẽ đến mua với số lượng lớn, giá cả do hai bên thỏa thuận.

Phương vẫn tò mò:

- Vậy trong làng mình có nhiều nhà kéo che thế này không em?

Hương lắc đầu, đưa ngón tay xinh xinh chỉ vào cái máy:

- Mỗi làng như vậy cũng chỉ vài, ba nhà chuyên làm nghề nấu mật mới có máy kéo che thôi. Ngoài ra nếu ai cần thì người ta sẽ chở mía đến để thuê kéo, sau đó mang về nấu mật. Đa phần người dân trồng để bán mía cây cho nhà máy đường thôi anh. Nhưng nhiều khi mía bị ép giá – Lúc này giọng Hương chùng xuống, nét mặt hơi buồn buồn – Cho nên bà con lại tự kéo che để bán mật vậy…

Chú trâu vẫn bước những vòng quay đều đặn, thi thoảng lại khụt khịt mũi ra chừng muốn đòi hỏi điều gì đó với chủ nhân thì phải. Đám người làm việc tất bật, tiếng cười nói râm ran, khiến cho công việc kéo che như có một cái gì đó cuốn hút Phương đến lạ.

Lúc Phương và cô bé Hương về đến nhà thì đã thấy có mấy người dân quanh đây đến chơi. Họ ngồi túm tụm chỗ chiếc bàn kê ngoài sân và trò chuyện rôm rả. Thành và Trung cũng đang có mặt ở đó, dường như các anh đang trả lời những câu hỏi thắc mắc của bà con về chuyện xây dựng con đập thì phải. Thành đưa tay vẽ những hình gì đó lên mặt bàn như để giải thích, tiếng anh sang sảng:

- Thưa bà con! Bây giờ công việc khảo sát đã được tiến hành xong. Chỉ chờ khi nào công ty tập trung đủ người, đủ máy móc và vật liệu là chúng tôi sẽ lập tức cho thi công ngay. Có lẽ là cũng chỉ trong tháng này thôi!…

 Đám người xì xầm bàn tán, rồi họ lại thi nhau hỏi về tiện ích của con đập, về phạm vi ảnh hưởng công năng của nó. Thành và Trung lúc này thay phiên nhau trả lời – không khí giống như trong một cuộc họp báo vậy - cuộc nói chuyện ra chừng hấp dẫn lắm. Ông chủ nhà thì thi thoảng lại chạy ra tiếp nước chè, vừa chêm vào những câu nhận xét vui nhộn khiến cho ai nấy đều cười rộ lên.

Phương nhìn thấy ông lão Trương cũng đang ngồi chăm chú nghe mọi người nói chuyện. Miệng lão tủm tỉm, cái đầu thì cứ gật gà gật gù ra chiều tâm đắc lắm. Lão Trương vốn là người ở trong làng này, vì lão hay đến đây chơi nên Phương cũng đã gặp vài lần. Lúc nào mặt lão cũng đỏ phừng phừng vì uống rượu, tuy nhiên lại là người thẳng tính và tốt bụng. Trong xóm hễ có chuyện gì quan trọng là lão biết ngay, vì vậy mà người ta ví lão giống như là cái anten thu phát tín hiệu ti vi của đài truyền hình trên huyện. Cũng nhờ đó mà lão Trương trở thành một sợi dây kết nối liên lạc không thể thiếu đối với mọi người. Lúc nào người ta cũng bắt gặp cái dáng đi liêu xiêu của lão ngoài đường, đôi khi miệng còn hát nghêu ngao những gì chẳng ai nghe rõ nữa. Bà vợ thì đã mất cách đây đã vài năm, cũng chẳng có con cái gì để lại, từ đó lão Trương sống một mình và càng đâm ra nghiện rượu hơn trước. Ngày xưa lão cũng là một tay thợ rừng giỏi giang chính hiệu. Một năm cũng phải mất mấy tháng anh chàng Trương sống ở trong rừng cùng với những người bạn đồng niên khác. Họ đốn nứa thả trôi theo dòng nước đến chỗ tập kết, sau đó lại dùng trâu kéo ra bìa rừng, nơi có con đường giao thông chạy qua. Sau những chuyến đi rừng, lắm khi chàng Trương còn mang về nhà cơ man nào là những nấm, măng non và mật ong rừng với chất lượng tuyệt hảo nữa.

Vừa thấy Phương bước vào sân, lão Trương liền cất tiếng lởi xởi:

- Chào chú Phương! Nghe nói chú từ thủ đô mới về. Vậy ở nơi đồi núi này có thấy buồn không? Vùng này toàn là cây cối thôi, không được đông vui nhộn nhịp như thành phố đâu!..

Nói rồi lão toét miệng cười dí dỏm, để lộ hai hàng lợi đỏ lòm phía bên trong hàm.

Phương giơ tay, vui vẻ:

- Chào cụ Trương! Chào mọi người!

Rồi anh thân mật bước tới, vừa nắm lấy tay vừa vỗ nhè nhẹ vào người lão, ôn tồn:

- Ở đâu thì cũng trước lạ sau quen mà cụ!

Mọi người nghe vậy thì đều cười mà tán thưởng. Lão Trương lắc lắc tay Phương, ngước đôi mắt mờ đục lên nhìn, tấm tắc:

- Chú nói chí lý lắm! Bà con chúng tôi đây ai cũng thích nghe chú nói chuyện cả!

- Cậu ấy là nhà giáo mà lão, nói hay là phải –Thành cũng cười to, hưởng ứng.

o0o

Những người tiền trạm cũng đã bắt đầu làm lán để chuẩn bị cho công việc thi công sắp tới. Họ tìm mua tre, nứa và gỗ ngay trong làng để làm. Nứa thì sẽ được chẻ ra rồi đan thành phên, còn tre dùng làm đòn để lợp mái. Khung nhà bằng sắt thì đã được công ty cho xe chở lên từ trước, bấy giờ chỉ việc dựng lên và lắp ghép nữa là xong. Tuy nhiên công việc san lấp mặt bằng và đào bới thì cũng phải tốn khá nhiều thời gian. Cứ ban ngày thì làm lán, tối đến họ lại vào trong nhà dân để nghỉ. Cả khu lán rộng đến chừng nửa héc ta, sẽ là nơi ăn ở của cán bộ, công nhân, đồng thời cũng là nơi dùng để tập kết kho bãi, vật liệu và máy móc. Sau khi khu lán được làm xong, tất cả mọi người sẽ ra ở tập trung tại đây để tiến hành thi công theo kế hoạch.
___________________________________________

Cỏ Voi(1): Một loại cỏ có thân cao từ 2 đến 4 mét, thân có lóng đốt như thân cây mía nhưng đường kính nhỏ hơn (khoảng 1 đến 2 cm). Cỏ Voi có nhiều lá, người ta thường trồng để chăn nuôi Bò.

Người Thổ(2): Một tộc người thiểu số, sống chủ yếu ở phía nam tỉnh Thanh Hóa và miền Tây Nghệ An.

Kéo che(3): Là công việc ép lấy nước mía để nấu mật. Đây là một nghề thủ công lâu đời (còn gọi là kéo mật mía).